Việt Nam chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, mở không gian tăng trưởng xanh
VOV.VN - Việt Nam đang chuyển mạnh từ tư duy ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa và thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, mở ra những động lực tăng trưởng mới.
Trong bài phát biểu kết luận Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 ngày 29/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ trạng thái tập trung ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa, thích ứng, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước.
Vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước nhận diện từ sớm và định hướng xuyên suốt. Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được ban hành ngày 3/6/2013. Qua 13 năm triển khai, Nghị quyết đã khẳng định tầm nhìn chiến lược và mang lại nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, bối cảnh phát triển hiện nay đã thay đổi sâu sắc so với thời điểm ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW. Những yêu cầu mới về phát triển nhanh, bền vững, các cam kết quốc tế về khí hậu, sự hình thành các tiêu chuẩn môi trường thế hệ mới trong thương mại và đầu tư toàn cầu cùng tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đòi hỏi Việt Nam có cách tiếp cận toàn diện, hiện đại hơn đối với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Trên cơ sở đó, Trung ương ban hành Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới. Kết luận kế thừa những nền tảng từ Nghị quyết số 24-NQ/TW, đồng thời phát triển, bổ sung những chủ trương, quyết sách lớn với tư duy đột phá, tầm nhìn xa.
Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn
Trung ương xác định bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới, ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển. PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn, đòi hỏi quá trình chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn phải được triển khai với quyết tâm cao.
Theo ông, kinh tế tuần hoàn có thể áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và năng lượng. Trong đó, nông nghiệp có dư địa lớn nhờ nguồn phụ phẩm dồi dào từ lúa gạo, cà phê, ca cao và các loại cây lâu năm, có thể được tận dụng để tạo ra giá trị gia tăng. Việc phát triển các sản phẩm như biochar từ phụ phẩm nông nghiệp đang mở ra hướng đi gắn với thị trường tín chỉ carbon. Hiện nay, tín chỉ carbon từ biochar được giao dịch ở mức khoảng 120-150 USD/tấn, trở thành nguồn hỗ trợ tài chính cho khu vực nông nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã đã ứng dụng công nghệ cao như nhà kính, hệ thống cảm biến tự động để kiểm soát điều kiện sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. Trong chăn nuôi, các mô hình kinh tế tuần hoàn từng bước được triển khai, tập trung xử lý chất thải để tạo ra năng lượng và phân bón hữu cơ. Với thủy sản, nhiều mô hình kinh tế tuần hoàn gắn với kinh tế biển đã hình thành, góp phần bảo vệ hệ sinh thái và sử dụng bền vững tài nguyên biển.
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, cách tiếp cận này giúp xử lý chất thải ngay trong quá trình sản xuất, giảm áp lực môi trường, cải thiện chất lượng không khí, đồng thời tạo giá trị kinh tế theo hướng bền vững. Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, mô hình khu công nghiệp sinh thái và khu công nghiệp tuần hoàn đang từng bước hình thành và mở rộng. Nhiều sáng kiến kinh tế tuần hoàn được triển khai trong các ngành nhựa, dệt may và vật liệu xây dựng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm tác động môi trường. Tuy nhiên, hoạt động tái chế và tái sử dụng hiện chủ yếu diễn ra ở quy mô đơn lẻ, thiếu tính liên kết; công nghệ xử lý còn hạn chế; khâu thiết kế sản phẩm chưa được doanh nghiệp quan tâm đúng mức.
Thực tế này đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách theo hướng rõ ràng, đồng bộ, phù hợp với đặc thù từng ngành, từng địa phương; thiết lập cơ chế khuyến khích thị trường, thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào kinh tế tuần hoàn và tăng cường hợp tác quốc tế.
Phát triển các đô thị chống chịu với biến đổi khí hậu
Một nhiệm vụ trọng tâm khác là phát triển hạ tầng có khả năng chống chịu cao với bão, lũ, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn và các tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Chương trình yêu cầu rà soát, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật công trình có xét đến yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển các đô thị chống chịu với biến đổi khí hậu, tập trung giải quyết ngập úng do mưa lớn cực đoan và triều cường ở các đô thị lớn.
Trong nông nghiệp, các mô hình thông minh, giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu được chú trọng. Đồng thời, triển khai các giải pháp thích ứng đặc thù theo vùng, dựa vào tự nhiên, hệ sinh thái và cộng đồng tại những khu vực có nguy cơ cao.
PGS.TS Nguyễn Đình Thọ cho rằng, Việt Nam cần chuyển sang mô hình kinh tế - sinh thái, tích hợp vốn tự nhiên vào hoạch định kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính. Theo ông, chỉ khi tài sản thiên nhiên được hạch toán đầy đủ và rủi ro sinh thái được nội bộ hóa trong chính sách, nền kinh tế mới có thể bảo đảm ổn định vĩ mô và phát triển dài hạn. Trong sản xuất nông nghiệp, việc hình thành hệ sinh thái tuần hoàn có thể giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Bã cà phê có thể được tận dụng để sản xuất phân vi sinh hoặc trồng nấm; rơm rạ có thể ủ men vi sinh để tạo phân bón; mô hình kết hợp tôm - lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long là một hướng phát triển thuận theo tự nhiên.
Theo chuyên gia, cần có cơ chế, chính sách liên kết giữa sản xuất, chế biến và các ngành liên quan để hình thành hệ sinh thái khép kín, qua đó tối đa hóa giá trị nông sản, biến chất thải của ngành này thành nguyên liệu của ngành khác.
Thị trường carbon tạo động lực chuyển đổi xanh
Theo chuyên gia, dư địa giảm phát thải của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, năng lượng, nông nghiệp và sử dụng tài nguyên. Quá trình chuyển đổi xanh đang diễn ra rõ nét hơn dưới tác động của các cam kết quốc tế về khí hậu, yêu cầu từ thị trường xuất khẩu và các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG). Tuy nhiên, mức độ chuyển đổi giữa các nhóm doanh nghiệp còn chênh lệch, nhất là giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, việc hình thành và vận hành thị trường carbon cùng cơ chế tín chỉ carbon sẽ mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp, tạo động lực đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng phát thải thấp. Thị trường carbon cũng tạo ra nhiều lựa chọn cho doanh nghiệp như đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi sang sản xuất sạch hơn để giảm phát thải và tạo tín chỉ carbon; tham gia đấu giá hạn ngạch phát thải; mua bán tín chỉ carbon trên thị trường giao dịch tập trung hoặc thực hiện các giao dịch song phương.
Khi lượng phát thải được quy đổi thành giá trị tài chính, doanh nghiệp có thêm cơ sở đầu tư vào công nghệ sạch, chuyển đổi năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Đây được xem là công cụ quan trọng giúp Việt Nam thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.
Kinh tế biển mở ra không gian tăng trưởng mới
PGS.TS Nguyễn Đình Thọ cho biết, Việt Nam có khoảng 3.260 km bờ biển và trên 1 triệu km2 vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán. Phát triển kinh tế biển được xác định là không gian chiến lược trọng tâm, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh. Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045, nhận thức về vị trí, vai trò của biển được nâng lên; nhiều ngành kinh tế biển phát triển khá, kết cấu hạ tầng ven biển được tăng cường và đời sống người dân vùng biển được cải thiện.
Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng cao, phát triển biển được xác định là một trong những không gian quan trọng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đổi mới tư duy và tầm nhìn phát triển biển trong giai đoạn mới, chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh. Khoa học, công nghệ, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo được xác định là phương tiện để khai thác hiệu quả các tư liệu sản xuất như đất đai, rừng, biển, tài nguyên, khoáng sản và không gian ngầm.
Trong lĩnh vực không gian, kinh tế tầm thấp ngày càng hiện diện trong logistics, nông nghiệp, khảo sát đo đạc, giám sát môi trường, cứu hộ cứu nạn và y tế khẩn cấp. Khi triển khai quy mô lớn, các hoạt động này có thể nâng cao năng suất, giảm chi phí, mở rộng chuỗi cung ứng dịch vụ và hình thành ngành nghề mới.
Điện gió ngoài khơi tạo động lực cho kinh tế xanh
Kinh tế biển cũng mở ra tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió ngoài khơi. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phát triển khoảng 512 GW điện gió ngoài khơi. Nguồn năng lượng này không chỉ cung cấp điện sạch mà còn tạo nền tảng hình thành các hệ sinh thái kinh tế mới, thúc đẩy sản xuất hydrogen xanh, amoniac xanh, lưu trữ năng lượng, công nghiệp hỗ trợ và giao thông xanh.
Nguồn điện tái tạo dồi dào có thể thúc đẩy điện hóa trong sản xuất, từ phương tiện vận tải đến máy móc nông nghiệp, giúp doanh nghiệp giảm phát thải, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.
Phát triển kinh tế biển vì vậy không chỉ dừng ở khai thác tài nguyên hay du lịch mà còn mở ra chuỗi giá trị năng lượng tái tạo từ sản xuất, truyền tải đến lưu trữ điện. Hydrogen xanh được xem là một hướng đi có tiềm năng trong lưu trữ năng lượng tái tạo và cung cấp nhiên liệu sạch cho giao thông vận tải, công nghiệp cùng nhiều lĩnh vực khác.
Trong bối cảnh kinh tế xanh trở thành xu hướng phát triển chủ đạo, việc tận dụng hiệu quả các cơ hội từ năng lượng tái tạo, công nghệ xanh và hợp tác quốc tế sẽ góp phần đưa kinh tế biển trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam trong những thập niên tới.