Đường tới toàn thắng 30/4/1975: Đoàn kết chống kẻ thù chung, giáng đòn quyết định
VOV.VN - Sau Mậu Thân 1968, Mỹ buộc xuống thang nhưng tiếp tục kéo dài, mở rộng chiến tranh toàn Đông Dương. Trước tình hình đó, Đảng chỉ đạo phối hợp ba nước Đông Dương, đánh bại các bước leo thang, giáng đòn quyết định, buộc Mỹ ký kết Hiệp định Paris.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của ta đã buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán và từng bước rút quân về nước. Nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, đế quốc Mỹ tiếp tục kéo dài và mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn Đông Dương. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đã chỉ đạo quân dân ta phối hợp chặt chẽ với lực lượng cách mạng Lào và Campuchia từng bước đánh bại âm mưu và hành động của địch, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris (1973).
Đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung
Đầu năm 1969, Richard Nixon lên làm Tổng thống Mỹ, đề ra học thuyết mang tên mình - Học thuyết Nixon và chiến lược toàn cầu “Ngăn đe thực tế”. Mỹ quyết định áp dụng thí điểm ở miền Nam Việt Nam chiến lược toàn cầu mới với tên gọi “Việt Nam hóa chiến tranh”. Bản chất chiến lược này là sử dụng quân đội tay sai làm lực lượng chủ yếu, có sự hỗ trợ của một bộ phận quân Mỹ và vẫn do Mỹ chỉ huy bằng hệ thống cố vấn quân sự, cung cấp đôla, vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh.
Hỗ trợ cho chiến tranh xâm lược miền Nam, Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam lần thứ hai; tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược Lào, Campuchia; tìm cách thỏa hiệp với các nước lớn XHCN nhằm cô lập cách mạng Việt Nam.
Thực hiện chiến lược mới đề ra, Mỹ rút dần quân viễn chinh, quân một số nước đồng minh về nước; đồng thời hối thúc chính quyền Sài Gòn ra sức bắt lính tăng quân ngụy từ khoảng 800.000 (1969) lên 900.000 (1970), 1.000.000 (1971), 1.100.000 (1972).
Tại miền Nam Việt Nam, lợi dụng những khó khăn của cách mạng sau Tết Mậu Thân 1968, Mỹ-Ngụy đẩy mạnh các kế hoạch “bình định”, càn quét đánh phá ác liệt vùng nông thôn, gây tổn thất nặng nề cho cách mạng, buộc phần lớn các đơn vị chủ lực Quân giải phóng miền Nam phải chuyển lên khu vực giáp biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia.
Đầu năm 1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đánh giá tình hình miền Nam cơ bản đã ổn định, từ đó chủ trương đẩy chiến tranh ra “vòng ngoài”. Tháng 3/1970, Mỹ chỉ đạo lực lượng tay sai ở Campuchia tiến hành đảo chính lật đổ Quốc trưởng Norodom Sihanouk, xóa bỏ nền hòa bình trung lập của Campuchia.
Tiếp đó, từ tháng 4/1970, 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn tràn qua biên giới, phối hợp với ngụy quân Campuchia mở cuộc hành binh lớn càn quét vùng biên giới nhằm mục đích tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng, “chộp bắt” cơ quan đầu não cách mạng miền Nam, phá căn cứ hậu cần chiến lược của ta. Đầu năm 1971, Mỹ-chính quyền Sài Gòn tăng cường đánh phá tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, đỉnh cao là việc chúng tập trung 55.000 quân mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh ra khu vực Đường 9-Nam Lào, coi đây là đòn đánh then chốt nhằm cắt đứt hoàn toàn tuyến chi viện đối phương; đồng thời kiểm nghiệm khả năng tác chiến của quân đội Sài Gòn trong “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Về phía ta, Hội nghị Bộ Chính trị và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 18 (tháng 1/1970) trên cơ sở nhận định tình hình, dự kiến Mỹ-Ngụy có thể đánh phá trở lại miền Bắc, tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược Lào, Campuchia hòng gây sức ép với ta trên bàn đàm phán. Từ đó, chỉ đạo toàn quân, toàn dân ta nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đánh bại mọi hành động của địch.
Sau khi Mỹ chỉ đạo lực lượng tay sai ở Campuchia tiến hành đảo chính, Đảng ta đề nghị với phía bạn tổ chức Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (24-25/4/1970) nêu cao tinh thần đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược, trong đó xác định rõ: miền Nam Việt Nam là chiến trường chính; Campuchia là chiến trường yếu nhất của địch; Lào ngày càng có vị trí hiểm yếu; miền Bắc Việt Nam là hậu phương chung ba nước Đông Dương.
Nhờ chỉ đạo chiến lược đúng đắn, kịp thời, quân dân Việt Nam phối hợp chặt chẽ với quân dân hai nước Lào, Campuchia kiên quyết đánh bại 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn tràn sang biên giới Campuchia (4-6/1970); tiếp đó đánh tan cuộc hành quân Lam Sơn 719 của địch ra khu vực Đường 9-Nam Lào (1-3/1971), loại khỏi chiến đấu hơn 21.000 địch, bắn rơi và phá hủy 556 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo, cối... Những thắng lợi này trực tiếp góp phần làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng, thay đổi cục diện chiến tranh theo hướng có lợi cho cách mạng.
Phát huy thắng lợi giành được, Trung ương Đảng ta chỉ đạo các đơn vị Quân giải phóng từ khu vực biên giới nhanh chóng cơ động trở lại các chiến trường miền Nam, vừa hỗ trợ quần chúng đấu tranh chống chương trình “bình định” của địch, vừa củng cố thế trận chuẩn bị cho cuộc cho cuộc tiến công chiến lược toàn miền trong năm 1972.
Thất bại trong việc đẩy chiến tranh ra vòng ngoài, Mỹ công khai bắt tay thỏa hiệp với các nước lớn XHCN nhằm cô lập cách mạng Việt Nam, gây sức ép với ta trên bàn đàm phán. Để phá tan mưu đồ của Mỹ, đưa sự nghiệp kháng chiến chuyển sang bước ngoặt mới, Trung ương Đảng ta vừa khẳng định tinh thần độc lập, tự chủ với Trung Quốc, Liên Xô; đồng thời quyết định mở cuộc tiến công chiến lược trên khắp chiến trường miền Nam, trọng điểm là chiến trường Trị-Thiên (bắt đầu từ cuối tháng 3/1972). Cuộc tiến công khiến Mỹ - chính quyền Sài Gòn rất bất ngờ, chứng tỏ chính sách “ngoại giao nước lớn” của Mỹ không hiệu quả. Chỉ trong thời gian ngắn, Quân giải phóng chọc thủng ba phòng tuyến mạnh nhất của quân đội Sài Gòn là Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đẩy địch vào tình thế bị động, chịu tổn thất lớn.
Để cứu nguy chế độ tay sai ở miền Nam, Mỹ ra sức bảo đảm hậu cần, hỗ trợ chiến đấu cho quân ngụy Sài Gòn; đồng thời nhanh chóng mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai (6/4/1972-15/1/1973) với quy mô, cường độ chưa từng có, đỉnh cao là cuộc tập kích đường không chiến lược (chủ yếu bằng máy bay B-52) vào Hà Nội-Hải Phòng (18-29/12/1972).
Dự kiến trước Mỹ sẽ ném bom trở lại miền Bắc, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương kịp thời chỉ đạo quân dân miền Bắc nêu cao quyết tâm đánh bại chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ; đẩy mạnh chi viện cho cách mạng miền Nam. Vấn đề tìm cách bắn rơi tại chỗ B-52, vốn được mệnh danh “con át chủ bài của không lực Mỹ” được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chỉ đạo sát sao, trực tiếp giao nhiệm vụ cho Quân chủng Phòng không-Không quân chuẩn bị trong thời gian dài.
Trên nền tảng thế trận chiến tranh nhân dân đã chuẩn bị, quân dân miền Bắc Việt Nam, nòng cốt là Quân chủng Phòng không-Không quân chiến đấu dũng cảm, sáng tạo, từng bước đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, đỉnh cao là Chiến dịch Phòng không Hà Nội-Hải Phòng (18-29/12/1972), ta bắn rơi 81 máy bay địch (trong đó có 34 B-52 và 5 F-111), bắt sống nhiều phi công, đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ.
Thắng lợi vang dội của quân dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc trong năm 1972 đã buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết rút hết quân về nước, mở ra bước ngoặt mới cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc.
Kiên định mục tiêu chiến lược, linh hoạt sách lược
Những thành công trong chỉ đạo chiến lược của Đảng (1969-1973) để lại cho cách mạng Việt Nam nhiều bài học quý báu, có thể vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Một là, đánh giá đúng thực tiễn, có tầm nhìn dự báo xa để chủ động trong mọi tình huống. Đảng đã phân tích chính xác âm mưu, thủ đoạn của Mỹ (mở rộng chiến tranh, đánh ra vòng ngoài biên giới, ném bom trở lại miền Bắc...), từ đó đề ra chủ trương đúng đắn và kịp thời điều chỉnh chiến lược đối phó.
Hiện nay, trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cùng những thách thức phi truyền thống như an ninh mạng, dịch bệnh, biến đổi khí hậu..., Việt Nam cần tiếp tục nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình và hoạch định chính sách. Điều này giúp đất nước chủ động ứng phó, không bị động bất ngờ trong các tình huống chiến lược, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển.
Hai là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp. Thực tiễn minh chứng, Đảng ta đã kết hợp sức mạnh chiến trường miền Nam với hậu phương miền Bắc; đồng thời tăng cường phối hợp chặt chẽ với cách mạng Lào, cách mạng Campuchia và tranh thủ sự ủng hộ tích cực của quốc tế, để tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh bại chiến lược của địch.
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chăm lo củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đồng thời mở rộng hợp tác toàn diện với khu vực, quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ để phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ và tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh.
Ba là, giữ vững thế chủ động và linh hoạt trong phương thức hành động nhằm chuyển hóa cục diện theo hướng có lợi. Trong giai đoạn 1969-1973, Đảng ta đã thể hiện rõ bản lĩnh chỉ đạo chiến lược khi không chỉ dừng lại ở phòng ngự, phản công mà còn chủ động mở các cuộc tiến công chiến lược, đồng thời cơ động lực lượng linh hoạt giữa các chiến trường, từng bước làm thất bại chiến lược của Mỹ.
Trong bối cảnh hiện nay, bài học này được vận dụng thông qua việc đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện đại. Trước các thách thức ngày càng đa dạng, Việt Nam cần kiên định mục tiêu chiến lược, đồng thời linh hoạt trong sách lược; chủ động tạo lập thế và lực mới, qua đó bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.
[1] Hồi ký Richard Nixon, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.413.