Đường tới toàn thắng 30/4/1975: Quyết sách chiến lược, chuyển thế tiến công
VOV.VN - Từ phong trào Đồng khởi 1959-1960, cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công, phát triển lên chiến tranh cách mạng. Với đường lối đúng đắn, chúng ta đã lần lượt đánh bại “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, tạo bước ngoặt Mậu Thân 1968, buộc Mỹ xuống thang và đàm phán.
Từ thắng lợi Phong trào Đồng khởi (1959-1960), cách mạng miền Nam Việt Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Trên cơ sở đó, Đảng ta từng bước phát triển cách mạng miền Nam lên chiến tranh cách mạng, tiến tới Tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đánh bại “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965) và “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968) của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đi vào đàm phán với ta tại Hội nghị Paris.
Bước phát triển quan trọng trong nghệ thuật chiến tranh nhân dân
Đầu năm 1961, sau khi lên nắm quyền, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” tại miền Nam Việt Nam. Đây là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, sử dụng quân đội Sài Gòn làm lực lượng chủ yếu, đặt dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn quân sự Mỹ, với sự hỗ trợ mạnh mẽ về vũ khí, trang bị và phương tiện chiến tranh hiện đại.
Mỹ nhanh chóng tăng viện trợ quân sự, đồng thời đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng quân đội Sài Gòn, từ khoảng 170.000 quân (1961) lên hơn 560.000 quân (1964). Cùng với đó là việc triển khai các chiến thuật mới như “trực thăng vận”, “thiết xa vận” và chương trình “Ấp chiến lược” nhằm tách quần chúng nhân dân khỏi cách mạng.
Trong khi đó, phương thức đấu tranh của ta trong giai đoạn Đồng Khởi chủ yếu là đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang hỗ trợ đã không còn phù hợp trước đối phương có ưu thế vượt trội về quân sự. Nếu không kịp thời chuyển hướng, cách mạng miền Nam có nguy cơ rơi vào thoái trào. Bối cảnh quốc tế lúc này vẫn rất phức tạp.
Trong hoàn cảnh đó, Đảng ta vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, đánh giá đúng tình hình trong nước, quốc tế, quyết định chuyển cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh cách mạng. Để đáp ứng yêu cầu mới, Trung ương Đảng quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam (23/1/1961), thống nhất thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (2/1961), từng bước hoàn thiện hệ thống lãnh đạo, chỉ huy.
Về phương thức đấu tranh chiến lược, năm 1961, Đảng chủ trương: đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự” (“hai chân”), đến năm 1962 phát triển thành “ba mũi giáp công” (chính trị, quân sự và binh vận”. Cùng với đó, chiến trường miền Nam được phân chia thành ba vùng chiến lược (rừng núi, đồng bằng, đô thị) với các hình thức đấu tranh phù hợp từng địa bàn. Từ đây, bắt đầu hình thành phương châm chiến lược “hai chân, ba mũi, ba vùng” trong kháng chiến chống Mỹ. Đây là bước phát triển quan trọng trong nghệ thuật chiến tranh nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp đủ sức đương đầu với đối phương.
Nhờ sự chỉ đạo chuyển hướng đúng đắn, cách mạng miền Nam nhanh chóng giành được những thắng lợi quan trọng, tiêu biểu là chiến thắng Ấp Bắc (1963), mở đầu cho việc đánh bại các chiến thuật hiện đại của Mỹ. Tiếp đó, các chiến thắng Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài (1964-1965) đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.
Không chấp nhận thất bại, đầu năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh, quân một số nước đồng minh cùng nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh hiện đại vào miền Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến, chuyển sang loại hình “Chiến tranh cục bộ”. Đồng thời, Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ra miền Bắc Việt Nam. Đây là cố gắng quân sự cao nhất của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Quân Mỹ vào miền Nam tăng lên nhanh chóng: 184.300 (12/1965), 267.500 (6/1966), 385.300 (12/1966), 448.800 (6/1967)... Quân một số nước đồng minh theo Mỹ vào Nam Việt Nam từ 20.000 (12/1965) tăng lên hơn 50.000 (12/1966)... Quân đội Sài Gòn tăng từ 514.000 (1965) lên 640.000 (1966)... Với cỗ máy chiến tranh khổng lồ đó, Mỹ hi vọng sẽ nhanh chóng lật ngược tình thế, quyết tâm giành thắng lợi trong vòng 25-30 tháng.
Trong bối cảnh đó, Đảng ta tiếp tục thể hiện bản lĩnh và trí tuệ khi tổ chức nhiều hội nghị quan trọng (1965) đánh giá tình hình một cách toàn diện, khách quan, khoa học và biện chứng; xác định rõ nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân tộc. Từ đó, đề ra quyết tâm: “Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền phải giữ vững và nêu cao quyết tâm đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân chống Mỹ, cứu nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, kiên quyết chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng”[2].
Quyết sách chiến lược
Trên cơ sở quyết tâm đó, Trung ương Đảng đề ra những quyết sách chiến lược quan trọng. Thứ nhất, kịp thời chuyển miền Bắc sang thời chiến, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, bảo vệ hậu phương lớn, đồng thời chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn (trên bộ) được nâng cấp, từng bước chuyển sang vận chuyển cơ giới. Tuyến chi viện đường biển bí mật đi quá cảnh qua cảng Sihanoukville (Campuchia) rồi vận chuyển vật chất vào miền Nam Việt Nam.
Thứ hai, tại miền Nam, phát huy tư tưởng chiến lược tiến công, tiếp tục đưa chiến tranh nhân dân phát triển lên trình độ cao. Để giữ vững quyền chủ động, ta xây dựng thêm những quả đấm chủ lực mạnh, đứng chân trên những địa bàn trọng điểm sẵn sàng tổ chức tiến công và phản công địch (trong hai năm 1965-1966, ta thành lập một số sư đoàn chủ lực tại miền Nam: 1, 2, 3, 5, 7, 9 cùng nhiều trung đoàn...).
Ba là, kịp thời động viên, tổ chức cả nước thành cao trào toàn dân chống Mỹ, cứu nước. Ở miền Nam, nổi lên các phong trào: “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, “Bám thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Căng địch ra mà đánh, vây chúng lại mà diệt”... Ở miền Bắc có các phong trào “Phụ nữ ba đảm đang”, “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Tay cày tay súng”, “Tay búa tay súng”, “Tiếng hát át tiếng bom”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”... Trên các tuyến giao thông là phong trào “Xe chưa qua nhà không tiếc”. Trên đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn có phong trào “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”. Đây là phương hướng hành động của hàng chục triệu quần chúng sẵn sàng xả thân chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Nhờ sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời, quân dân ta luôn giữ thế chủ động, đánh thắng Mỹ ngay trong những trận đầu đọ sức ở miền Nam: Núi Thành (26/5/1965), Vạn Tường (18-19/8/1965), tiếp đó lần lượt đánh bại hai cuộc phản công chiến lược trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của địch. Quân dân miền Bắc kiên cường chiến đấu, bắn rơi hàng nghìn máy bay, bắn cháy nhiều tàu chiến địch.
Đến cuối năm 1967, cục diện chiến tranh đang diến tiến theo hướng có lợi cho cách mạng. Điểm cơ bản của tình hình vẫn là Việt Nam đang ở thế thắng, thế chủ động, thuận lợi; còn Mỹ đang ở thế thua, thế bị động, khó khăn. Nắm thời cơ chiến lược, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 14 (1/1968) chủ trương đưa chiến tranh cách mạng miền Nam phát triển lên Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa.
Cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa bắt đầu diễn ra vào dịp Tết Mậu Thân 1968 bao gồm hai đòn tiến công chính:
- Đòn tiến công tập trung của các sư đoàn chủ lực tại hướng Mặt trận Đường 9-Bắc Quảng Trị nhằm kéo đại bộ phận lực lượng cơ động địch (chủ yếu là quân Mỹ) ra vòng ngoài, thực hiện giam chân, đánh tiêu hao, tiêu diệt lớn, làm phá sản chiến lược quân sự “tìm và diệt” của Mỹ.
- Đòn tiến công hướng vào các đô thị miền Nam, nơi có cơ quan đầu não, hậu cứ an toàn của Mỹ - chính quyền Sài Gòn nhằm giành thắng lợi quyết định, buộc Mỹ phải đàm phán đi đến chấm dứt chiến tranh.
Đây là cách đánh chưa từng diễn ra trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và cũng hiếm có trong lịch sử chiến tranh cách mạng, khiến cho Mỹ ngụy không hề nghĩ tới và cũng không thể nghĩ tới.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã tạo ra bước ngoặt chiến lược quan trọng, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, đồng thời kích thích phong trào phản chiến mạnh mẽ trong lòng nước Mỹ. Trước áp lực đó, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson buộc phải tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc, chấp nhận đàm phán với Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Paris và không tái tranh cử, đánh dấu sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.
Nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị sâu sắc
Thực tiễn giai đoạn 1961-1968 cho thấy nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng đạt đến trình độ cao, thể hiện tư duy sáng tạo, độc đáo chưa có tiền lệ trong lịch sử. Từ đó, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị sâu sắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Một là, phải luôn giữ vững sự độc lập, tự chủ về đường lối; đồng thời vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong chỉ đạo thực tiễn nhằm bảo đảm thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đề ra. Trong bối cảnh hiện nay, bài học này vẫn mang tính thời sự và ý nghĩa cốt lõi. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; không để đất nước rơi vào tình trạng lệ thuộc về kinh tế, công nghệ hay chính trị; đồng thời xử lý linh hoạt các quan hệ quốc tế nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.
Hai là, cần bám sát thực tiễn, nhạy bén phát hiện thời cơ, kịp thời nắm bắt và tận dụng thời cơ đưa cách mạng phát triển lên những bước ngoặt có ý nghĩa quyết định. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và cạnh tranh toàn cầu hiện nay, bài học này đòi hỏi Việt Nam phải đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chủ động nắm bắt cơ hội nhằm phát triển nhanh và bền vững.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy các đột phá chiến lược, đặc biệt trong hoàn thiện thể chế, nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng hạ tầng số hiện đại, qua đó trực tiếp góp phần nâng cao vị thế quốc gia và tránh nguy cơ bỏ lỡ cơ hội phát triển.
Ba là, chủ động xây dựng tiềm lực toàn diện, sẵn sàng chuyển trạng thái và phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm đối phó hiệu quả với mọi âm mưu, hành động leo thang chiến tranh của đối phương. Trong điều kiện hiện nay, bài học này thể hiện ở yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, quốc phòng - an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Đồng thời, cần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh gắn với nền kinh tế độc lập, tự chủ, có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc toàn cầu như khủng hoảng kinh tế, xung đột địa chính trị và các thách thức an ninh phi truyền thống.
[1] Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (12/1965). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26 (1965), Nxb Chinh trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.635.