Hồ sơ cán bộ được bảo vệ theo quy định về bí mật nhà nước và an toàn mạng
VOV.VN - Thay mặt Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quy định số 211-QĐ/TW ngày 7/8/2026 về quản lý hồ sơ cán bộ.
Quy định nêu rõ, công tác quản lý hồ sơ cán bộ phải tuân thủ quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Mỗi cán bộ đều phải có hồ sơ cán bộ đầy đủ, rõ ràng. Cán bộ mới được tuyển dụng lần đầu vào cơ quan, đơn vị nào thì cơ quan, đơn vị đó có trách nhiệm lập hồ sơ gốc cho cán bộ; bảo đảm mỗi cán bộ chỉ có một hồ sơ cán bộ dùng chung trong toàn hệ thống chính trị.
Hồ sơ cán bộ phải được lập, cập nhật, bổ sung đầy đủ, chính xác, kịp thời; quản lý, sử dụng thống nhất theo quy định; có sự phân cấp, phân quyền, phân công rõ cơ quan quản lý, người chịu trách nhiệm, thời hạn thực hiện và kết quả cụ thể, bảo đảm phục vụ tốt công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ.
Khi hồ sơ cán bộ bị thất lạc, hư hỏng hoặc dữ liệu điện tử bị mất, sai lệch, việc lập lại hồ sơ cán bộ phải được sự chỉ đạo trực tiếp của người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý cán bộ. Mọi tài liệu lập lại, dữ liệu phục hồi phải được cấp có thẩm quyền thẩm tra, xác minh đầy đủ, rõ ràng, theo đúng quy định.
Theo quy định, hồ sơ cán bộ bao gồm hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử, có giá trị pháp lý như nhau. Kết hợp quản lý hồ sơ cán bộ giấy với hồ sơ cán bộ điện tử theo lộ trình, tiến tới thay thế cơ bản bằng hồ sơ cán bộ điện tử khi đáp ứng đủ điều kiện, kỹ thuật và hạ tầng.
Hồ sơ cán bộ điện tử phải được số hóa theo chuẩn dữ liệu thống nhất, lưu trữ trên hệ thống bảo đảm an toàn, bảo mật, có phân quyền truy cập theo thẩm quyền; được kết nối liên thông với các hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác cán bộ theo quy định. Việc sử dụng hồ sơ cán bộ điện tử và hồ sơ giấy phải tuân thủ đúng quy định, bảo đảm đáp ứng yêu cầu của công tác cán bộ và quản lý cán bộ.
Hồ sơ cán bộ và dữ liệu hồ sơ cán bộ phải được bảo vệ theo đúng quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ chính trị nội bộ, an toàn thông tin mạng, lưu trữ và quản lý dữ liệu; nghiêm cấm truy cập, khai thác, sao chụp, cung cấp, chia sẻ, chỉnh sửa, làm sai lệch, hủy bỏ hồ sơ, dữ liệu trái thẩm quyền hoặc sử dụng sai mục đích.
Theo quy định, các loại tài liệu trong hồ sơ cán bộ gồm: Quyển lý lịch cán bộ; lý lịch tóm tắt; sơ yếu lý lịch; phiếu bổ sung lý lịch; các quyết định về nhân sự; các bản tự kiểm điểm, nhận xét đánh giá, xếp loại cán bộ…; các bản kê khai tài sản, thu nhập (trường hợp thuộc diện phải kê khai); các kết luận kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra liên quan đến cán bộ (nếu có)…
Quy định cũng có một chương riêng về quản lý hồ sơ cán bộ, trong đó có nêu quy định về lập hồ sơ cán bộ; bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ cán bộ; nghiên cứu, khai thác hồ sơ cán bộ; lưu trữ, bảo quản hồ sơ cán bộ…
Chương IV của quy định nêu về quản lý hồ sơ cán bộ điện tử, cụ thể có các điều về tạo lập hồ sơ cán bộ điện tử; cập nhật và chỉnh lý hồ sơ cán bộ điện tử; quản lý, khai thác và sử dụng hồ sơ cán bộ điện tử…
Về thẩm quyền của cơ quan quản lý hồ sơ cán bộ, quy định nêu rõ, Ban Tổ chức Trung ương quản lý hồ sơ cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý thống nhất dữ liệu hồ sơ cán bộ trong hệ thống chính trị…
Ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy quản lý hồ sơ của cán bộ thuộc diện ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy quản lý và cơ sở dữ liệu hồ sơ cán bộ trong hệ thống chính trị của địa phương theo phân cấp.
Cơ quan, đơn vị tham mưu về tổ chức cán bộ cấp xã, phường, đặc khu và tương đương quản lý hồ sơ cán bộ thuộc diện cấp mình quản lý…
Quy định có hiệu lực kể từ ngày ký (7/8/2026). Quy định này bãi bỏ Quy chế số 01-QCTC/TW, ngày 07/11/1997 của Ban Tổ chức Trung ương và các quy định, văn bản khác về lý lịch, hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức không còn phù hợp với Quy định này.