Quốc hội thông qua Luật sửa đổi 10 luật lĩnh vực nông nghiệp, môi trường
VOV.VN - Sáng 24/8, với 465/467 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Tự công bố đi cùng tự chịu trách nhiệm, hậu kiểm theo mức độ rủi ro
Cùng với cắt giảm thủ tục, Luật xác lập rõ hơn cơ chế tự công bố, tự chịu trách nhiệm, quản lý theo rủi ro và tăng cường hậu kiểm; nhiều thẩm quyền được phân cấp cho địa phương.
Điểm đáng chú ý của Luật là tiếp tục thể chế hóa mạnh mẽ yêu cầu cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; chuyển từ phương thức quản lý nặng về “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương. Đây là định hướng cải cách xuyên suốt nhằm giảm tối đa chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước. Qua đó giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.
Tuy nhiên, việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Thay vào đó, phương thức quản lý được chuyển sang cơ chế minh bạch thông tin, tự công bố, tự chịu trách nhiệm, kết hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hậu kiểm.
Theo Luật, với những lĩnh vực áp dụng cơ chế tự công bố như giống cây trồng, thức ăn chăn nuôi..., tổ chức, cá nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đầy đủ, chính xác, trung thực của thông tin đã công bố. Thông tin tự công bố và những thay đổi liên quan phải được thực hiện công khai, minh bạch trên cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý chuyên ngành hoặc hệ thống dữ liệu điện tử dùng chung.
Tổ chức, cá nhân đồng thời phải lưu giữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu kỹ thuật để phục vụ công tác hậu kiểm và truy xuất nguồn gốc khi có yêu cầu.
Đáng chú ý, cơ chế tự công bố không miễn trừ trách nhiệm pháp lý. Nếu thông tin công bố không đúng sự thật hoặc sản phẩm không đáp ứng chất lượng đã công bố, cơ quan quản lý có thể đình chỉ lưu hành, hủy bỏ thông tin tự công bố, yêu cầu thu hồi, công khai vi phạm và xử lý trách nhiệm theo quy định pháp luật.
Công tác hậu kiểm được thiết kế theo nguyên tắc quản lý rủi ro và lịch sử tuân thủ pháp luật, thay vì kiểm tra máy móc, dàn trải. Chính phủ cũng sẽ hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm, phân định trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, đồng thời tăng cường phối hợp giữa cơ quan chuyên môn với Hải quan, Biên phòng tại cửa khẩu để kiểm soát chất lượng vật tư, hóa chất nông nghiệp ngay từ đầu nguồn nhập khẩu.
Một yêu cầu khác được đặt ra là hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để trở thành công cụ quản lý thay thế cho nhiều điều kiện tiền kiểm trước đây. Những yêu cầu về năng lực kỹ thuật, an toàn sinh học, cơ sở vật chất, trang thiết bị... được chuẩn hóa thành tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên ngành. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tự đối chiếu, tuân thủ trong suốt quá trình hoạt động và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Việc đánh giá rủi ro và lựa chọn nội dung cắt giảm được thực hiện theo nguyên tắc không can thiệp không cần thiết vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; loại bỏ những thủ tục không cần thiết, không rõ mục tiêu quản lý và tăng cường quản lý dựa trên rủi ro.
Phân quyền mạnh hơn nhưng phải đi cùng kiểm soát quyền lực
Cùng với cải cách thủ tục, Luật tiếp tục phân cấp, phân quyền nhiều nhiệm vụ cho địa phương. Quan điểm xuyên suốt được Chính phủ tiếp thu là phân quyền phải đi đôi với phân định rõ trách nhiệm, kiểm soát quyền lực, kiểm tra, giám sát và bảo đảm năng lực thực thi.
Đối với lĩnh vực địa chất, khoáng sản, một số thủ tục mang tính kỹ thuật, gắn với thực địa được phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Đây là những khâu mà cơ quan quản lý tại địa bàn có lợi thế về thông tin thực địa và điều kiện kiểm tra, giám sát.
Tuy nhiên, việc cấp mới giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác khoáng sản nhóm I vẫn được giữ ở Trung ương. Theo giải trình của Chính phủ, khoáng sản nhóm I bao gồm nhiều loại khoáng sản chiến lược, quan trọng, trong đó có đất hiếm. Việc cấp mới giấy phép không chỉ đơn thuần là một thủ tục hành chính mà còn liên quan đến giao tài sản công thuộc sở hữu toàn dân, quy hoạch khoáng sản, cân đối cung - cầu nguyên liệu và an ninh năng lượng ở phạm vi cả nước.
Đây cũng là lý do Chính phủ chưa mở rộng thêm việc phân quyền cấp mới giấy phép đối với khoáng sản nhóm I, mà sẽ tiếp tục tổng kết, đánh giá toàn diện để làm cơ sở đề xuất mức độ phân cấp phù hợp khi sửa đổi tổng thể Luật Địa chất và khoáng sản.
Trong quá trình tiếp thu ý kiến đại biểu, Chính phủ cũng làm rõ yêu cầu bảo đảm cơ chế phối hợp giữa Trung ương và địa phương. Cơ sở dữ liệu về địa chất và khoáng sản đang được vận hành thử nghiệm, dự kiến đưa vào khai thác, sử dụng trong năm 2026, qua đó tạo nền tảng để các địa phương được khai thác, sử dụng chung thông tin phục vụ quản lý.
Đối với tài nguyên nước, việc vận hành hồ chứa, liên hồ chứa theo thời gian thực tiếp tục được đặt trong yêu cầu phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương và đơn vị quản lý hồ chứa. Chính phủ cho rằng để vận hành theo thời gian thực cần có hệ thống dữ liệu, bản đồ ngập lụt và các công cụ hỗ trợ ra quyết định điều hòa, phân phối tài nguyên nước, đồng thời cần nguồn lực để triển khai đồng bộ hạ tầng kỹ thuật.
Luật cũng xử lý một số thủ tục giảm khâu trung gian. Chẳng hạn, thay vì thực hiện thẩm định phương án điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa, cơ quan quản lý chuyên ngành chủ trì rà soát, tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, địa phương và tổ chức liên quan, sau đó trình Thủ tướng xem xét, quyết định.
Việc phân quyền được đặt trong tổng thể nguyên tắc “một việc chỉ giao một cơ quan thực hiện”, nhằm cắt giảm các khâu trung gian, rút ngắn thời gian xử lý và giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.
Với việc Quốc hội thông qua Luật, các quy định mới sẽ tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, môi trường; đồng thời chuyển mạnh phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, lấy mức độ rủi ro và lịch sử tuân thủ làm cơ sở kiểm tra, tăng tính chủ động của người dân, doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm trách nhiệm quản lý nhà nước.