Doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường TP.HCM tăng mạnh, vì sao?
VOV.VN - Trong 8 tháng đầu năm 2026, cả nước có hơn 157.000 doanh nghiệp rời thị trường, riêng tại TP.HCM có 43.000 doanh nghiệp rời đi. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có thủ tục hành chính còn vướng mắc, gánh nặng chi phí sản xuất kinh doanh gia tăng khiến doanh nghiệp phải rút lui.
Chi phí ngày càng nặng
Ông Hoàng Kim Lập (ngụ tại phường Thạnh Mỹ Tây, quận Bình Thạnh cũ) từng là Giám đốc Công ty TNHH xăng dầu Thư Phương. Trước Tết 2026, công ty này đã hoàn thành thủ tục rút khỏi thị trường.
Lý giải về nguyên nhân rút lui, ông Lập chia sẻ, theo quy định, mỗi cửa hàng xăng dầu chỉ lấy được một đầu mối. Từ đó, đối tác ép chiết khấu, nhiều lúc giảm xuống còn 0-400 đồng/lít trong khi chi phí cố định lên tới 800 đồng/lít nên công ty thường xuyên thua lỗ.
Bên cạnh đó, từ lúc phải xuất hóa đơn mua bán từng phần, khách ở vùng xa hoặc mua ít hàng không thực hiện được nên việc mua bán, thu tiền trở nên bế tắc.
"Đẩy chiết khấu xuống, có những lúc 0 đồng, tức là mình phải bù chi phí vận chuyển nhưng về bán cho người dân thì phải bán đúng giá, không được ngừng duy trì là kinh doanh không ra được. Tháng nào cũng bù lỗ, trung bình mỗi tháng bù lỗ 20.000.000 đồng, chiết khấu cũng không đủ bù chi phí cố định. Có những thời điểm xuống thấp mà mình không đủ duy trì nhưng xin đóng cửa thì Sở Công Thương không cho. Khó khăn, mọi việc không có cách hội nào để phục hồi, khi mà đóng cửa doanh nghiệp không thu hồi được gì. Toàn bộ bồn, bể, trụ xăng bán phế liệu hết. Thiệt hại rất nhiều", ông Hoàng Kim Lập chia sẻ.
Còn đối với trường hợp của Công ty TNHH Hải Âu Phát, trên giấy tờ, doanh nghiệp này chưa ngừng hoạt động. Tuy nhiên, trên thực tế, công ty cũng đã rơi vào tình trạng thua lỗ kéo dài, không thể tiếp tục tự vận hành nên từ lâu đơn vị đã nhập vào công ty TNHH Ngọc Thùy Chi.
Chia sẻ về việc tạm ngưng hoạt động, ông Nguyễn Thắng, Giám đốc Công ty TNHH Hải Âu Phát cho hay, khi các ngân hàng gặp khó khăn hay phải thực hiện thay đổi chính sách nên ngân hàng đã thu hồi vốn, không tiếp tục cho vay gói cũ dẫn đến doanh nghiệp không có vòng tiền để xoay xở nên vướng nợ xấu, phải rút lui.
Cùng với đó, các quy định pháp luật hay thuế thay đổi quá nhiều và quá nhanh nên trong quá trình làm còn nhiều thứ không bắt kịp quy định. Trong đó, các quy định về chuyển đổi số cũng thay đổi quá nhanh mà mỗi lần thay đổi phải tốn rất nhiều chi phí, chưa kể chi phí duy trì hạ tầng công nghệ ngày càng đắt đỏ.
"Sau dịch cũng không có cảnh báo, doanh nghiệp không thể nào tiếp cận chính sách ra tại thời điểm dịch dẫn đến sau dịch khi triển khai các hóa đơn điện tử thì chỉ có những doanh nghiệp có lợi nhuận lớn mới có thể tồn tại và trong giai đoạn buộc phải chuyển đổi nhanh, không có quy trình hướng dẫn cụ thể, công nghệ không cập nhật và không có các đề xuất để cho thực hiện việc đó. Thậm chí ở một số địa phương, có những khoảng cách về chính sách và cấp phép cho các điều kiện hoạt động và “lệ nhiều hơn là những văn bản quy định pháp luật được thực hiện” dẫn đến doanh nghiệp chịu rất nhiều chi phí tiềm ẩn lớn", ông Nguyễn Thắng cho biết.
Vướng mắc thủ tục và hạn chế trong quản trị
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng cho rằng, làn sóng rút lui này của doanh nghiệp là hệ quả từ những thay đổi thể chế, suy giảm nguồn lực và khả năng hấp thụ vốn, cùng áp lực từ thuế quan và các rào cản kỹ thuật khi xuất khẩu.
Điểm nghẽn nằm ở thủ tục hành chính mới và tâm lý e ngại, đùn đẩy trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ thi hành. Doanh nghiệp không sợ cạnh tranh trực diện trên thị trường, nhưng họ kiệt sức vì chi phí, thời gian chờ đợi phê duyệt dự án kéo dài.
Ngoài ra, thanh khoản hệ thống ngân hàng tuy không khan hiếm nhưng dòng tiền chảy vào sản xuất kinh doanh còn nhỏ giọt. Khối doanh nghiệp nhỏ và vừa rơi vào vòng xoáy thiếu tài sản đảm bảo nên không tiếp cận được tín dụng ưu đãi nên không thể tái cấu trúc và suy kiệt dòng tiền.
Còn theo TS. Giang Chấn Tây, kinh tế tuy tăng trưởng nhưng sức mua cả thị trường giảm và các chi phí mặt bằng, nhân công, văn phòng, quản lý, thuế, lãi vay, công nghệ,... đều tăng. Tốc độ tăng chi phí nhanh hơn lợi nhuận khiến doanh nghiệp nặng gánh dần rồi bào mòn cả nguồn vốn.
Một nguyên nhân khác là thủ tục hành chính không được suôn sẻ, nhất là doanh nghiệp liên quan đến thủ tục xuất nhập khẩu, nhiều vấn đề kéo dài trong khi các chi phí phát sinh vẫn phải trả.
TS. Giang Chấn Tây cũng cảnh báo vấn đề nội tại trong chính sách quản lý của doanh nghiệp và việc vội vã mở rộng quy mô nhưng chưa chặt chẽ, chắc chắn về quản trị doanh nghiệp, điều hành nhân sự, quản lý tài chính, thực hiện thủ tục pháp luật. Những điều này cũng khiến cho doanh nghiệp gặp những thiệt hại không đáng có.
“Khi thấy bán được hàng họ mở rộng ra nhưng về mặt pháp lý để làm bộ hồ sơ giao nhận hàng hóa đôi khi không được chặt chẽ thì bị doanh nghiệp và đối tác chiếm dụng, không thu được tiền, trong khi doanh nghiệp khi mà xuất hóa đơn đều phải trả. Về thuế giá trị gia tăng, cơ quan thuế không tính phần đó. Thu nợ được hay không nhưng vẫn phải tính về thuế thu nhập doanh nghiệp, cho nên khi mà không thu nợ được về thì doanh nghiệp thiệt hại cả hai”, TS. Giang Chấn Tây nêu thực tế.
Về tình trạng doanh nghiệp rời thị trường tăng cao, ông Nguyễn Văn Được, Chủ tịch UBND TP.HCM cho rằng, có nhiều nguyên nhân, trong đó có liên quan đến thủ tục hành chính. Chủ tịch UBND TP yêu cầu các đơn vị tiếp tục cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính để hỗ trợ doanh nghiệp. Các sở, ngành phải rà soát toàn bộ thủ tục thuộc lĩnh vực phụ trách, tiếp tục cắt giảm những thủ tục không cần thiết, tăng tính tự động và rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ.
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 8 tháng đầu năm 2026, cả nước có hơn 157.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong khi chỉ có gần 138.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới.
Riêng đối với địa bàn TP.HCM, trong 8 tháng đầu năm 2026, Thành phố có 38.253 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Trong khi đó, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường lên đến 43.093 doanh nghiệp, tăng 24,4%. Đặc biệt, có 9.703 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng đến 164,46% so với cùng kỳ và 33.390 doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động, tăng 7,82%.