Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam: Doanh nghiệp đứng trước cuộc chơi mới
VOV.VN - Mô hình phát triển của Việt Nam đang chuyển từ dựa vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp sang khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất. Sự thay đổi này mở ra dư địa tăng trưởng mới, nhưng đồng thời buộc doanh nghiệp Việt phải thay đổi cách quản trị, đầu tư và cạnh tranh.
Từ lợi thế chi phí thấp đến cạnh tranh bằng năng suất
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã hình thành nền kinh tế có độ mở cao, tham gia sâu vào thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, khi dư địa tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ dần thu hẹp, yêu cầu đổi mới mô hình phát triển trở nên cấp thiết.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt trọng tâm vào việc chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Với cộng đồng doanh nghiệp, đây không chỉ là sự thay đổi về định hướng chính sách mà còn là sự thay đổi về cách thức cạnh tranh.
Trong một thời gian dài, lợi thế về chi phí lao động, đất đai và khả năng mở rộng quy mô sản xuất giúp nhiều doanh nghiệp Việt tham gia thị trường và chuỗi cung ứng quốc tế. Nhưng khi các tiêu chuẩn về chất lượng, công nghệ, môi trường, truy xuất nguồn gốc và quản trị ngày càng cao, lợi thế chi phí thấp không còn đủ để tạo ra sức cạnh tranh bền vững. Vì thế, doanh nghiệp phải chuyển từ tư duy "làm nhiều hơn" sang "tạo ra giá trị cao hơn".
Điều này thể hiện ở năng suất. Cùng một lượng lao động, vốn và nguyên liệu, doanh nghiệp nào tạo ra nhiều sản phẩm hơn, chất lượng cao hơn và chi phí thấp hơn sẽ có lợi thế. Muốn vậy, doanh nghiệp phải đầu tư vào công nghệ, tự động hóa, dữ liệu, quản trị và chất lượng nguồn nhân lực.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho rằng, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng lấy năng suất, khoa học công nghệ và kinh tế số làm động lực, thay cho sự phụ thuộc vào vốn và lao động.
Đối với doanh nghiệp, chuyển đổi số không thể chỉ dừng ở việc sử dụng phần mềm quản lý hay bán hàng trực tuyến. Công nghệ phải được đưa vào quá trình ra quyết định, quản trị dòng tiền, quản lý sản xuất, dự báo thị trường và chăm sóc khách hàng.
Khi AI ngày càng được ứng dụng rộng rãi, doanh nghiệp sản xuất, thương mại, logistics, tài chính hay dịch vụ đều phải tính đến khả năng ứng dụng công nghệ để giảm chi phí và nâng cao hiệu quả.
Ông Lực cho rằng, đây cũng là áp lực trực tiếp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Không phải doanh nghiệp nào cũng có nguồn lực lớn để đầu tư công nghệ, nhưng chậm chuyển đổi sẽ khiến khoảng cách năng suất với các doanh nghiệp dẫn đầu ngày càng rộng.
Nhà nước nên trả tiền cho kết quả xanh
Một yêu cầu khác của mô hình phát triển mới là doanh nghiệp không thể phát triển đơn lẻ. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp Việt phải tăng cường liên kết với nhau và với các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khoa học công nghệ.
Nghị quyết 19-NQ/TW định hướng hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp theo các tầng liên kết, chú trọng doanh nghiệp dẫn dắt, doanh nghiệp đầu chuỗi và tăng cường kết nối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đây là điều có ý nghĩa đặc biệt đối với mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa và tăng sự tham gia của doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thực tế cho thấy, để trở thành nhà cung cấp cho các tập đoàn lớn, doanh nghiệp không chỉ cần sản phẩm có giá cạnh tranh mà còn phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, tiến độ, quản trị, tiêu chuẩn môi trường và khả năng truy xuất nguồn gốc.
Nếu chỉ đứng ở khâu gia công, lắp ráp hoặc cung cấp nguyên liệu đơn giản, phần giá trị mà doanh nghiệp Việt giữ lại sẽ hạn chế. Bài toán lớn hơn là từng bước tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ thiết kế, nghiên cứu và phát triển đến xây dựng thương hiệu, phân phối và làm chủ công nghệ.
Chuyên gia Hoàng Trọng Thủy nêu quan điểm, với doanh nghiệp, năng lực phát triển mới trước hết nằm ở khả năng làm chủ công nghệ, nâng chất lượng nhân lực, đổi mới quản trị và xây dựng sản phẩm có sức cạnh tranh. Doanh nghiệp cần thay đổi cách nhìn về giá trị, từ câu hỏi “1 tấn nguyên liệu bán được bao nhiêu tiền?” sang “1 tấn nguyên liệu làm ra bao nhiêu sản phẩm và tạo ra bao nhiêu giá trị?”. Đây mới là thước đo năng lực tạo giá trị gia tăng.
Về phía Nhà nước, ông Thủy cho rằng, không nên hỗ trợ bằng cách cho vay để doanh nghiệp mua sắm thiết bị công nghệ. Chính sách cần tập trung vào hạ tầng số, dữ liệu được liên thông, kết nối dùng chung, đồng thời gắn với tín dụng dài hạn cho những công nghệ chứng minh được hiệu quả. Trong chuyển đổi xanh, Nhà nước nên trả tiền cho kết quả xanh nhiều hơn là trả tiền cho thiết bị xanh, mô hình xanh.
Đổi mới mô hình phát triển không phải là câu chuyện chỉ nằm trên các nghị quyết hay chiến lược vĩ mô. Nó đang đi thẳng vào từng nhà máy, doanh nghiệp và quyết định đầu tư.
Cuộc chơi mới sẽ không chỉ được quyết định bởi doanh nghiệp có quy mô lớn đến đâu, mà bởi khả năng tạo ra giá trị cao hơn, làm chủ công nghệ tốt hơn và đứng ở vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị.