Kinh tế biển 3 chiều: Không gian khổng lồ chờ được đánh thức
VOV.VN - Từ mặt nước, cột nước đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, kinh tế biển “ba chiều” mở ra những không gian phát triển mới cho Việt Nam. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành động lực tăng trưởng, Việt Nam cần tháo gỡ các điểm nghẽn về quy hoạch, thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực.
Khai thác không gian biển 3 chiều
Từ trước đến nay, khi nhắc đến kinh tế biển, tư duy phổ biến thường gắn với hàng hải, đánh bắt thủy hải sản gần bờ hoặc du lịch biển đảo. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể bỏ lỡ những tầng giá trị khác mà đại dương mang lại.
Kinh tế biển “ba chiều” bao gồm ba tầng không gian. Tầng bề mặt và ven bờ tập trung phát triển hệ thống cảng biển thông minh, logistics hiện đại, đô thị biển và du lịch sinh thái chất lượng cao. Tầng cột nước là không gian của năng lượng tái tạo như điện gió ngoài khơi, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao xa bờ và giao thông vận tải biển quốc tế. Tầng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển có nguồn tài nguyên khoáng sản chiến lược, hệ thống cáp quang ngầm xuyên đại dương, cùng tiềm năng về năng lượng địa nhiệt và công nghệ lưu trữ carbon.
Trao đổi với báo chí, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch thường trực Hội Nghề cá Việt Nam cho rằng, quy hoạch và phát triển không gian biển theo chiều sâu không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực mà còn là chìa khóa giải quyết xung đột lợi ích giữa các ngành kinh tế, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và hệ sinh thái.
Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam nêu quan điểm, biển chính là "mỏ vàng" chiến lược chưa được khai phá hết tiềm năng thực tế. Theo ông Cường, nếu biết tận dụng lợi thế không gian biển ba chiều với tư duy kinh tế tuần hoàn, chúng ta sẽ tạo ra những cực tăng trưởng mới hoàn toàn khác biệt, vượt qua các giới hạn chật hẹp của đất liền để đưa nền bệ đỡ kinh tế vươn tầm quốc tế.
Sự kết hợp của không gian ba chiều giúp khai thác triệt để các thế mạnh vốn có của quốc gia có đường bờ biển dài. Thay vì tranh giành không gian chật hẹp ở vùng ven bờ, các ngành kinh tế giờ đây có thể vươn ra không gian rộng lớn ngoài khơi. Việt Nam sở hữu tiềm năng điện gió ngoài khơi thuộc hàng lớn nhất khu vực nhờ vùng biển nông và sức gió ổn định, giúp cung cấp nguồn năng lượng sạch và tạo ra chuỗi giá trị công nghiệp phụ trợ khổng lồ.
Đồng thời, việc chuyển đổi mô hình nuôi trồng thủy sản từ lồng bè truyền thống sang công nghiệp quy mô lớn, áp dụng công nghệ tự động hóa chịu được sóng gió lớn sẽ giúp bảo vệ môi trường sinh thái ven bờ và nâng cao giá trị gia tăng của thủy hải sản. Bên cạnh đó, kinh tế ngầm và công nghệ biển còn mở ra hướng đi mới với việc phát triển hạ tầng số thông qua hệ thống cáp quang ngầm, nghiên cứu dược liệu biển từ các vùng nước sâu và ứng dụng công nghệ vật liệu mới từ đáy biển.
Gỡ điểm nghẽn thể chế, hạ tầng và nhân lực
Dù tiềm năng lớn, việc hiện thực hóa mô hình kinh tế biển “ba chiều” vẫn gặp nhiều rào cản. Điểm nghẽn là sự thiếu vắng một khung pháp lý toàn diện, đồng bộ về quản lý không gian biển tổng hợp. Các ngành kinh tế vẫn có xu hướng hoạt động theo tư duy cắt khúc, thiếu liên kết giữa đất liền và đại dương cũng như giữa các tầng không gian biển.
Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm rác thải nhựa và suy giảm đa dạng sinh học cũng đe dọa tính bền vững của các mô hình kinh tế biển. Trong khi đó, hạ tầng logistics và nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, robot ngầm, công nghệ sinh học biển chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu.
Theo các chuyên gia, cần có cơ chế điều phối liên vùng, liên ngành đủ mạnh, dựa trên dữ liệu số không gian biển để đưa ra quyết định chính xác, kịp thời. Nguồn lực tài chính và công nghệ cũng là những yếu tố quan trọng để biến tiềm năng thành dự án thực tế. Việt Nam cần xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật xanh, minh bạch để thu hút dòng vốn quốc tế.
Trước hết, cần hoàn thiện thể chế và quy hoạch không gian biển thông qua việc phê duyệt, triển khai Quy hoạch không gian biển quốc gia, thiết lập ranh giới rõ ràng cho từng hoạt động kinh tế theo các tầng không gian nhằm hạn chế xung đột lợi ích.
Song song với đó là đầu tư hạ tầng chiến lược, gồm hạ tầng dùng chung cho kinh tế biển, cảng trung chuyển quốc tế, hạ tầng truyền tải điện gió ngoài khơi và các trung tâm nghiên cứu công nghệ biển. Công tác đào tạo nhân lực cũng cần được đổi mới, tập trung vào kỹ thuật hàng hải tiên tiến, quản trị đại dương, công nghệ năng lượng sạch và bảo vệ môi trường biển.
Hợp tác quốc tế sẽ giúp Việt Nam chia sẻ tri thức, chuyển giao công nghệ và thu hút nguồn vốn đầu tư xanh từ các định chế tài chính quốc tế, qua đó giảm rủi ro tài chính và thúc đẩy các dự án biển quy mô lớn.
Kinh tế biển “ba chiều” không chỉ là một cách tiếp cận mới về không gian phát triển mà còn mở ra hướng khai thác hiệu quả hơn lợi thế biển của Việt Nam. Khi các tầng không gian từ mặt nước đến đáy sâu được kết nối và quản lý hài hòa, đại dương có thể trở thành một không gian quan trọng cho tăng trưởng và phát triển bền vững.