Kinh tế tuần hoàn, thị trường carbon mở ra động lực tăng trưởng xanh

VOV.VN - Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới đã mở ra cách tiếp cận mới, trong đó kinh tế tuần hoàn, thị trường carbon, kinh tế biển và năng lượng tái tạo được xem là những động lực quan trọng cho tăng trưởng xanh.

Trong bài phát biểu kết luận Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 ngày 29/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ trạng thái tập trung ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa, thích ứng, nâng cao sức chống chịu và khả năng thích ứng, bảo vệ vững chắc đất nước.

Trao đổi với phóng viên VOV.VN, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, trước những yêu cầu mới của phát triển nhanh, bền vững và tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, Việt Nam cần chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thúc đẩy các động lực tăng trưởng xanh.

Chuyển từ kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn

PV: Thưa PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Kết luận số 75-KL/TW đặt bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển. Theo ông, điều này đặt ra yêu cầu gì đối với mô hình tăng trưởng của Việt Nam?

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn, đòi hỏi Việt Nam phải chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn với quyết tâm cao. Kinh tế tuần hoàn có thể áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và năng lượng. Trong đó, nông nghiệp có dư địa rất lớn nhờ nguồn phụ phẩm dồi dào từ lúa gạo, cà phê, ca cao và các loại cây lâu năm.

Nếu được tận dụng hợp lý, phụ phẩm nông nghiệp có thể trở thành nguyên liệu để tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng. Chẳng hạn, việc phát triển biochar từ phụ phẩm nông nghiệp đang mở ra hướng đi gắn với thị trường tín chỉ carbon. Theo thông tin hiện nay, tín chỉ carbon từ biochar được giao dịch ở mức khoảng 120-150 USD/tấn, tạo thêm nguồn hỗ trợ tài chính cho khu vực nông nghiệp.

Trong chăn nuôi, các mô hình kinh tế tuần hoàn từng bước được triển khai theo hướng xử lý chất thải để tạo năng lượng và phân bón hữu cơ. Trong lĩnh vực thủy sản, nhiều mô hình gắn kinh tế tuần hoàn với kinh tế biển cũng đã hình thành, góp phần bảo vệ hệ sinh thái và sử dụng bền vững tài nguyên biển. Đây là hướng tiếp cận giúp xử lý chất thải ngay trong quá trình sản xuất, giảm áp lực đối với môi trường, cải thiện chất lượng không khí và đồng thời tạo thêm giá trị kinh tế.

Cần hình thành hệ sinh thái sản xuất khép kín

PV: Việc phát triển kinh tế tuần hoàn hiện nay còn gặp những hạn chế nào, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, mô hình khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp tuần hoàn đang từng bước hình thành và mở rộng. Nhiều sáng kiến cũng được triển khai trong các ngành nhựa, dệt may và vật liệu xây dựng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm tác động đến môi trường.

Tuy nhiên, hoạt động tái chế, tái sử dụng hiện vẫn chủ yếu diễn ra ở quy mô đơn lẻ, thiếu tính liên kết. Công nghệ xử lý còn hạn chế, trong khi khâu thiết kế sản phẩm chưa được doanh nghiệp quan tâm đúng mức. Vì vậy, cần hoàn thiện hệ thống chính sách theo hướng rõ ràng, đồng bộ, phù hợp với đặc thù của từng ngành, từng địa phương; đồng thời thiết lập các cơ chế khuyến khích thị trường, thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào kinh tế tuần hoàn và tăng cường hợp tác quốc tế.

PV: Trong nông nghiệp, cách tiếp cận kinh tế tuần hoàn có thể được triển khai như thế nào để vừa bảo vệ môi trường, vừa gia tăng giá trị sản xuất?

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Việt Nam cần chuyển sang mô hình kinh tế - sinh thái, trong đó vốn tự nhiên được tích hợp vào hoạch định kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính. Chỉ khi tài sản thiên nhiên được hạch toán đầy đủ và rủi ro sinh thái được nội bộ hóa trong chính sách, nền kinh tế mới có thể bảo đảm ổn định vĩ mô và phát triển dài hạn.

Trong sản xuất nông nghiệp, việc hình thành các hệ sinh thái tuần hoàn có thể nâng cao đáng kể hiệu quả sử dụng tài nguyên. Bã cà phê có thể được tận dụng để sản xuất phân vi sinh hoặc trồng nấm; rơm rạ có thể ủ men vi sinh để tạo phân bón. Mô hình kết hợp tôm - lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng là một hướng phát triển thuận theo tự nhiên.

Điều quan trọng là phải có cơ chế, chính sách liên kết giữa sản xuất, chế biến và các ngành liên quan để hình thành hệ sinh thái khép kín. Khi đó, chất thải của ngành này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào của ngành khác, qua đó tối đa hóa giá trị nông sản và giảm áp lực lên môi trường.

Thị trường carbon tạo động lực chuyển đổi xanh

PV: Thị trường carbon được kỳ vọng tạo thêm động lực cho quá trình chuyển đổi xanh. Doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng cơ hội này như thế nào?

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Dư địa giảm phát thải của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất lớn, nhất là trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, năng lượng, nông nghiệp và sử dụng tài nguyên. Quá trình chuyển đổi xanh đang diễn ra rõ nét hơn dưới tác động của các cam kết quốc tế về khí hậu, yêu cầu từ các thị trường xuất khẩu và các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG). Tuy nhiên, mức độ chuyển đổi giữa các nhóm doanh nghiệp còn có sự chênh lệch, đặc biệt giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Việc hình thành và vận hành thị trường carbon cùng cơ chế tín chỉ carbon sẽ mở ra cơ hội mới, tạo động lực để doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng phát thải thấp.

Doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều hướng đi: đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển sang sản xuất sạch hơn để giảm phát thải và tạo tín chỉ carbon; tham gia đấu giá hạn ngạch phát thải; mua bán tín chỉ carbon trên thị trường giao dịch tập trung hoặc thực hiện các giao dịch song phương.

Khi lượng phát thải được quy đổi thành giá trị tài chính, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để đầu tư vào công nghệ sạch, chuyển đổi năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Đây là một công cụ quan trọng giúp Việt Nam thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.

Phát triển đô thị có khả năng chống chịu

PV: Một yêu cầu khác được đặt ra là phát triển hạ tầng và đô thị có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu. Theo ông, đâu là những vấn đề cần ưu tiên?

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Việt Nam cần phát triển hệ thống hạ tầng có khả năng chống chịu cao với bão, lũ, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn và các tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Cần rà soát, hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn và định mức kinh tế - kỹ thuật đối với công trình có xét đến yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu. Đồng thời, cần phát triển các đô thị chống chịu với biến đổi khí hậu, tập trung giải quyết tình trạng ngập úng do mưa lớn cực đoan và triều cường tại các đô thị lớn.

Trong nông nghiệp, cần chú trọng các mô hình thông minh, giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu; triển khai các giải pháp thích ứng đặc thù theo từng vùng, dựa vào tự nhiên, hệ sinh thái và cộng đồng tại những khu vực có nguy cơ cao.

Kinh tế biển mở ra không gian tăng trưởng mới

PV: Một trong những không gian phát triển được Kết luận 75 đặt ra là kinh tế biển. Ông đánh giá thế nào về dư địa phát triển của lĩnh vực này?

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Việt Nam có khoảng 3.260 km bờ biển và trên 1 triệu km² vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán. Phát triển kinh tế biển được xác định là không gian chiến lược trọng tâm, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh.

Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhận thức về vị trí, vai trò của biển đã được nâng lên; nhiều ngành kinh tế biển phát triển khá, kết cấu hạ tầng ven biển được tăng cường, đời sống người dân vùng biển được cải thiện.

Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng cao, biển cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ khai thác tài nguyên mà là một không gian phát triển quốc gia. Cần đổi mới tư duy và tầm nhìn phát triển biển, chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh. Khoa học công nghệ, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo sẽ là những công cụ quan trọng để khai thác hiệu quả đất đai, rừng, biển, tài nguyên, khoáng sản và không gian ngầm.

Bên cạnh đó, kinh tế tầm thấp cũng đang ngày càng hiện diện trong logistics, nông nghiệp, khảo sát đo đạc, giám sát môi trường, cứu hộ cứu nạn và y tế khẩn cấp. Nếu được triển khai ở quy mô lớn, lĩnh vực này có thể nâng cao năng suất, giảm chi phí, mở rộng chuỗi cung ứng dịch vụ và hình thành những ngành nghề mới.

Điện gió ngoài khơi tạo động lực cho kinh tế xanh

PV: Điện gió ngoài khơi được đánh giá có tiềm năng lớn. Theo ông, nguồn năng lượng này có thể tạo ra những chuỗi giá trị mới như thế nào?

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Kinh tế biển mở ra tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió ngoài khơi. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phát triển khoảng 512 GW điện gió ngoài khơi. Nguồn năng lượng này không chỉ cung cấp điện sạch mà còn tạo nền tảng hình thành các hệ sinh thái kinh tế mới, thúc đẩy sản xuất hydrogen xanh, amoniac xanh, lưu trữ năng lượng, công nghiệp hỗ trợ và giao thông xanh.

Nguồn điện tái tạo dồi dào cũng có thể thúc đẩy quá trình điện hóa trong sản xuất, từ phương tiện vận tải đến máy móc nông nghiệp. Qua đó, doanh nghiệp có thể giảm phát thải, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.

Phát triển kinh tế biển vì vậy không chỉ dừng ở khai thác tài nguyên hay du lịch mà còn mở ra chuỗi giá trị năng lượng tái tạo từ sản xuất, truyền tải đến lưu trữ điện. Hydrogen xanh là một hướng đi có tiềm năng trong lưu trữ năng lượng tái tạo và cung cấp nhiên liệu sạch cho giao thông vận tải, công nghiệp cùng nhiều lĩnh vực khác.

Trong bối cảnh kinh tế xanh trở thành xu hướng phát triển chủ đạo, việc tận dụng hiệu quả các cơ hội từ năng lượng tái tạo, công nghệ xanh và hợp tác quốc tế sẽ góp phần đưa kinh tế biển trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam trong những thập niên tới.

PV: Trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đình Thọ!

do-thi-xanh.jpg

Kết luận 75 xác định bảo vệ môi trường là thành tố quan trọng để phát triển đô thị

VOV.VN - Kết luận số 75 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV xác định bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu là những nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ mới. Trong đó, xây dựng lối sống văn minh, lối sống xanh được xem là giải pháp thiết thực, hướng tới phát triển bền vững.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Việt Nam chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, mở không gian tăng trưởng xanh
Việt Nam chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, mở không gian tăng trưởng xanh

VOV.VN - Việt Nam đang chuyển mạnh từ tư duy ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa và thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, mở ra những động lực tăng trưởng mới.

Việt Nam chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, mở không gian tăng trưởng xanh

Việt Nam chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, mở không gian tăng trưởng xanh

VOV.VN - Việt Nam đang chuyển mạnh từ tư duy ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa và thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, mở ra những động lực tăng trưởng mới.

Bảo vệ môi trường là trụ cột trung tâm trong tư duy phát triển bền vững của Đảng
Bảo vệ môi trường là trụ cột trung tâm trong tư duy phát triển bền vững của Đảng

VOV.VN - Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã đã thể hiện bước tiến về tư duy chiến lược khi bổ sung và nhấn mạnh nội dung bảo vệ môi trường, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, xây dựng thể chế thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với phát triển kinh tế – xã hội là nhiệm vụ trọng tâm.

Bảo vệ môi trường là trụ cột trung tâm trong tư duy phát triển bền vững của Đảng

Bảo vệ môi trường là trụ cột trung tâm trong tư duy phát triển bền vững của Đảng

VOV.VN - Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã đã thể hiện bước tiến về tư duy chiến lược khi bổ sung và nhấn mạnh nội dung bảo vệ môi trường, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, xây dựng thể chế thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với phát triển kinh tế – xã hội là nhiệm vụ trọng tâm.

Hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo vệ môi trường
Hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo vệ môi trường

VOV.VN - Chiều nay (30/9), tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp tiếp thu, giải trình kết luận của Ủy ban thường vụ Quốc hội và ý kiến cơ quan thẩm tra đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo vệ môi trường, dự thảo Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). 

Hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo vệ môi trường

Hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo vệ môi trường

VOV.VN - Chiều nay (30/9), tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp tiếp thu, giải trình kết luận của Ủy ban thường vụ Quốc hội và ý kiến cơ quan thẩm tra đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo vệ môi trường, dự thảo Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).