Muốn kinh tế số chiếm 30% GDP, Việt Nam phải gỡ những nút thắt nào?
VOV.VN - Kinh tế số Việt Nam đang tăng trưởng nhanh, nhưng để nâng tỷ trọng từ 14% GDP lên khoảng 30% vào năm 2030, bài toán không chỉ đưa công nghệ vào doanh nghiệp. Thể chế, dữ liệu, hạ tầng, vốn và nhân lực đang là những nút thắt cần được tháo gỡ để công nghệ thực sự tạo ra năng suất và giá trị gia tăng.
Kinh tế số tăng nhanh nhưng vẫn còn nhiều “điểm nghẽn”
Theo số liệu được Phó Chủ tịch VCCI Bùi Trung Nghĩa dẫn tại Diễn đàn Kinh doanh 2026, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP. Chính phủ cũng đặt mục tiêu hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, có ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu.
Vì thế, khoảng cách từ 14% lên 30% GDP không đơn thuần là câu chuyện tăng quy mô. Thách thức lớn hơn là làm thế nào để tăng trưởng kinh tế số chuyển thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thực chất.
Ông Bùi Trung Nghĩa nhận định, thách thức trung tâm của kinh tế số Việt Nam hiện không còn nằm ở tốc độ tăng trưởng mà ở khả năng chuyển hóa tăng trưởng thành giá trị gia tăng, năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Điểm nghẽn này đặc biệt rõ với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp. Dù nhận thức rõ nhu cầu chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận tín dụng và thiếu nguồn lực để đầu tư máy móc, công nghệ, phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và AI.
Không chỉ thiếu vốn, khả năng hấp thụ công nghệ cũng là vấn đề. GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, nếu doanh nghiệp chỉ mua phần mềm hoặc trang bị AI nhưng vẫn giữ nguyên cách quản trị, quy trình ra quyết định và phương thức vận hành cũ thì rất khó tạo ra hiệu quả tương xứng.
Một điểm nghẽn khác nằm ở dữ liệu. Dữ liệu tại nhiều nơi còn phân tán, thiếu kết nối và chia sẻ. Khi doanh nghiệp, ngân hàng, cơ quan quản lý và các hệ thống liên quan chưa thể kết nối đồng bộ, lợi ích của quá trình số hóa bị hạn chế.
Cùng với đó là bài toán hạ tầng. Nếu mỗi doanh nghiệp, mỗi cơ quan đều phải tự đầu tư hệ thống riêng, chi phí sẽ tăng cao trong khi dữ liệu lại khó liên thông. Theo các chuyên gia, kinh tế số đòi hỏi sự kết nối mang tính hệ thống thay vì số hóa riêng lẻ từng đơn vị.
Theo ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Việt Nam cần tạo đột phá về tư duy và thể chế phát triển, trong đó ưu tiên hoàn thiện khung pháp lý và mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những lĩnh vực mới như AI, blockchain, dữ liệu mở và tài sản số.
Gỡ thể chế để tạo tăng trưởng thực chất
Một trong những yêu cầu cấp thiết được đặt ra là thay đổi tư duy xây dựng và thực thi chính sách để theo kịp tốc độ đổi mới công nghệ.
Đại biểu Quốc hội Phan Đức Hiếu nêu quan điểm, để gỡ điểm nghẽn thể chế, cần thay đổi tư duy làm luật. Đừng quá sa đà vào để tìm hiểu công nghệ đó là gì mà hãy quan tâm đến việc công nghệ đó tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế. Thể chế phải tạo không gian cho sự đổi mới thay vì trở thành rào cản ngăn chặn sự sáng tạo.
Cùng với thể chế, dữ liệu cần được coi là một loại hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế số. Các chuyên gia đề xuất tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu theo nguyên tắc “một lần khai báo - nhiều lần sử dụng”, đồng thời bảo đảm an toàn dữ liệu và an ninh mạng.
Theo TS. Nguyễn Huy Công, cần hình thành các cơ sở dữ liệu sạch, sống và thống nhất, cùng những nền tảng số dùng chung để kết nối dữ liệu giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. Bên cạnh đó, thị trường cần thêm nguồn vốn dài hạn, vốn đầu tư mạo hiểm và “vốn kiên nhẫn” để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường.
GS, TS Hoàng Văn Cường khẳng định, mục tiêu cuối cùng của kinh tế số không chỉ là tăng tỷ trọng kinh tế số trong GDP hay mức độ ứng dụng công nghệ, mà phải tạo ra năng suất cao hơn, sản phẩm và dịch vụ có giá trị hơn, thị trường rộng hơn và năng lực cạnh tranh tốt hơn cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
"Cần nhìn vào phần giá trị thực sự được tạo ra và giữ lại cho doanh nghiệp, thay vì chỉ quan tâm quy mô kinh tế số. Bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế số của Việt Nam rất cao, nhưng chưa chắc năng suất và giá trị gia tăng của doanh nghiệp đã tăng tương ứng. Do đó, doanh nghiệp chuyển đổi số phải trả lời được những câu hỏi cụ thể: công nghệ giúp tăng năng suất ra sao, mở thêm thị trường nào, giảm được chi phí bao nhiêu và mang lại hiệu quả gì", ông Cường nêu.
Vì vậy, thước đo của kinh tế số cũng cần được chuyển từ câu hỏi “đã số hóa bao nhiêu” sang “số hóa tạo thêm bao nhiêu giá trị”. Khi thể chế thông thoáng hơn, dữ liệu được kết nối, hạ tầng dùng chung được phát triển và doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp sức về vốn, công nghệ và nhân lực, mục tiêu kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP vào năm 2030 mới có thể trở thành động lực tăng trưởng thực chất thay vì chỉ là một chỉ tiêu về quy mô.