Việt Nam cần làm gì để trở thành nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045?

VOV.VN - Khi những động lực tăng trưởng truyền thống dần chạm giới hạn, Việt Nam cần làm gì để tạo ra giá trị cao hơn, nâng tầm nền kinh tế và hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045?

Chuyển từ tăng trưởng quy mô sang tạo ra giá trị cao

Tại Diễn đàn Doanh nghiệp Vương quốc Anh - Việt Nam 2026 diễn ra tại TP.HCM ngày 29/10 với chủ đề “Tầm nhìn 2045: Kiến tạo nền kinh tế thu nhập cao, giá trị cao”, bà Mariam Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, Campuchia và Lào nhận định, để trở thành nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần đưa thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 3 lần trong hai thập kỷ tới. Đây là mục tiêu đầy tham vọng, đòi hỏi tốc độ tăng trưởng và chuyển đổi nhanh hơn những giai đoạn trước.

Trong bối cảnh những động lực tăng trưởng truyền thống như nguồn lao động dồi dào, tích lũy vốn và hội nhập thương mại đang dần chạm giới hạn, theo bà Sherman, Việt Nam đứng trước ngưỡng cửa của cuộc chuyển đổi lớn lần thứ hai. Nếu cuộc chuyển đổi thứ nhất đưa người lao động từ đồng ruộng vào nhà máy, thì cuộc chuyển đổi tiếp theo cần đưa doanh nghiệp tiến lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị, tạo ra việc làm chất lượng hơn. 

Quá trình này càng cấp thiết khi dân số trong độ tuổi lao động đã đạt đỉnh từ năm 2014, trong khi năng suất lao động chưa tương xứng với tiềm năng và mối liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Vì thế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là một trong những hướng đi quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. 

Phát biểu tại sự kiện, Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Vương quốc Anh tại Việt Nam Iain Frew nhận định: “Công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ đóng vai trò then chốt đối với năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong tương lai và Vương quốc Anh cam kết trở thành đối tác mạnh mẽ trong hành trình này. Từ trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, công nghệ tài chính (fintech), công nghệ y tế đến sản xuất tiên tiến, năng lượng sạch và công nghệ công nghiệp, tất cả đều mở ra những cơ hội to lớn để kết nối thế mạnh chuyên môn của Anh với khát vọng phát triển và năng lực kinh doanh của Việt Nam”.

Nâng năng suất, phát triển doanh nghiệp nội địa

Một trong những vấn đề lớn của nền kinh tế là giá trị gia tăng mà doanh nghiệp và người lao động Việt Nam giữ lại trong chuỗi sản xuất còn thấp. Theo bà Sherman, một lao động trong ngành sản xuất của Việt Nam tạo ra khoảng 6,7 USD giá trị gia tăng mỗi giờ, chưa bằng một nửa mức của Trung Quốc. Khoảng 85% việc làm trong khu vực xuất khẩu vẫn tập trung vào các hoạt động sản xuất như lắp ráp.

Trong khi đó, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ 35% năm 2009 xuống còn 18% năm 2023. Các doanh nghiệp FDI đóng góp 73% kim ngạch xuất khẩu nhưng liên kết với khu vực doanh nghiệp nội địa vẫn còn hạn chế.

Những con số này cho thấy thách thức của Việt Nam không chỉ là mở rộng sản xuất hay thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài, mà còn là nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước để tạo ra và giữ lại nhiều giá trị hơn. Muốn vậy, Việt Nam cần hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô, từng bước tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế, kỹ thuật và nghiên cứu ứng dụng. Quan trọng hơn là khả năng tiếp nhận, làm chủ và tiếp tục phát triển công nghệ sau khi được chuyển giao, qua đó hình thành năng lực sáng tạo ngay tại Việt Nam.

Ông Warrick Cleine MBE, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành KPMG Việt Nam và Campuchia cho rằng: “Chúng ta không chỉ đưa các ý tưởng vào Việt Nam, mà phải giúp những ý tưởng ấy thực sự trở thành một phần của Việt Nam, được tích hợp sâu vào nền kinh tế trong nước. Trên thực tế, điều này đòi hỏi các nhà đầu tư nước ngoài phải thành lập cơ sở nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam, đầu tư phát triển ý tưởng, công nghệ, nhãn hiệu và các giải pháp được tạo ra tại Việt Nam, vừa phục vụ thị trường trong nước vừa hướng tới xuất khẩu. Qua đó, giá trị được tạo ra trong hệ sinh thái kinh tế Việt Nam sẽ tăng lên”.

Bên cạnh năng lực doanh nghiệp và công nghệ, theo bà Sherman, năng lực thể chế cũng là yếu tố quyết định khả năng hiện thực hóa quá trình chuyển đổi này: “Năng lực thể chế chính là nút thắt lớn nhất đối với mục tiêu phát triển của Việt Nam vào năm 2045. Một nền kinh tế phức tạp, lấy đổi mới sáng tạo làm động lực không thể chỉ được điều hành từ Trung ương. Nhà nước cần tiếp tục chuyển đổi vai trò, từ người hoạch định và trực tiếp sản xuất sang người tạo điều kiện và quản lý, với một khu vực tư nhân năng động. Nghị quyết 68, trong đó xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam”.

Để đạt mục tiêu năm 2045, Việt Nam cần chuyển từ tăng trưởng dựa vào quy mô sang tạo ra giá trị cao hơn, với năng suất lao động, danh nghiệp nội địa và đổi mới sáng tạo là những động lực then chốt. Đây không chỉ là hành trình nâng tầm nền kinh tế, mà còn là nền tảng để Việt Nam tiến tới thịnh vượng bền vững.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Tăng trưởng GDP trên 10% để đạt mục tiêu nước phát triển có thu nhập cao
Tăng trưởng GDP trên 10% để đạt mục tiêu nước phát triển có thu nhập cao

VOV.VN - Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, Đảng ta xác định mục tiêu, yêu cầu phải đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10% trở lên. Điều này thể hiện yêu cầu rất cao để Việt Nam đạt mục tiêu đến năm 2045 là nước phát triển có thu nhập cao.

Tăng trưởng GDP trên 10% để đạt mục tiêu nước phát triển có thu nhập cao

Tăng trưởng GDP trên 10% để đạt mục tiêu nước phát triển có thu nhập cao

VOV.VN - Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, Đảng ta xác định mục tiêu, yêu cầu phải đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10% trở lên. Điều này thể hiện yêu cầu rất cao để Việt Nam đạt mục tiêu đến năm 2045 là nước phát triển có thu nhập cao.

Thuế thu nhập cá nhân: Thuế suất quá cao sẽ tạo ra những hệ lụy tiêu cực
Thuế thu nhập cá nhân: Thuế suất quá cao sẽ tạo ra những hệ lụy tiêu cực

VOV.VN - Đồng tình với việc rút gọn biểu thuế thu nhập cá nhân từ 7 bậc xuống 5 bậc, song nhiều chuyên gia cho rằng, nên bỏ mức thuế suất 35% bởi việc duy trì một mức thuế suất quá cao không những không khuyến khích được sự phát triển mà còn tạo ra những hệ lụy tiêu cực như hành vi gian lận, trốn thuế.

Thuế thu nhập cá nhân: Thuế suất quá cao sẽ tạo ra những hệ lụy tiêu cực

Thuế thu nhập cá nhân: Thuế suất quá cao sẽ tạo ra những hệ lụy tiêu cực

VOV.VN - Đồng tình với việc rút gọn biểu thuế thu nhập cá nhân từ 7 bậc xuống 5 bậc, song nhiều chuyên gia cho rằng, nên bỏ mức thuế suất 35% bởi việc duy trì một mức thuế suất quá cao không những không khuyến khích được sự phát triển mà còn tạo ra những hệ lụy tiêu cực như hành vi gian lận, trốn thuế.

Thuế thu nhập cá nhân: “Lương chưa kịp tăng đã phải đóng thuế cao hơn”
Thuế thu nhập cá nhân: “Lương chưa kịp tăng đã phải đóng thuế cao hơn”

VOV.VN - Sau 5 năm, chi phí sinh hoạt đã biến động rất lớn, nhiều nhóm hàng thiết yếu như xăng dầu, giáo dục, y tế, thực phẩm đều tăng mạnh. Trong khi đó, ngưỡng giảm trừ lại đứng yên. Điều này tạo ra bất cập, khiến cho người làm công ăn lương rơi vào cảnh “lương chưa kịp tăng đã phải đóng thuế cao hơn”.

Thuế thu nhập cá nhân: “Lương chưa kịp tăng đã phải đóng thuế cao hơn”

Thuế thu nhập cá nhân: “Lương chưa kịp tăng đã phải đóng thuế cao hơn”

VOV.VN - Sau 5 năm, chi phí sinh hoạt đã biến động rất lớn, nhiều nhóm hàng thiết yếu như xăng dầu, giáo dục, y tế, thực phẩm đều tăng mạnh. Trong khi đó, ngưỡng giảm trừ lại đứng yên. Điều này tạo ra bất cập, khiến cho người làm công ăn lương rơi vào cảnh “lương chưa kịp tăng đã phải đóng thuế cao hơn”.