Luật Kiến trúc sửa đổi sẽ tạo "kháng thể văn hóa" cho bản, làng trước bê tông hóa
VOV.VN - Cụ thể hóa Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Luật Kiến trúc sửa đổi được kỳ vọng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo "kháng thể văn hóa". TS. Trần Hữu Sơn hiến kế “4 nhà” để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống cho vùng nông thôn và núi cao trước làn sóng bê tông hóa.
Luật Kiến trúc sửa đổi được xem là giải pháp thể chế mang tính chiến lược nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị. Trong bối cảnh cơn lốc đô thị hóa đang đẩy nhiều làng quê, bản làng vào nguy cơ bê tông hóa và đứt gãy không gian văn hóa truyền thống, việc tạo dựng "kháng thể văn hóa" cho không gian sống của người dân các vùng nông thôn và miền núi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Phóng viên VOV.VN có cuộc trao đổi với TS. Trần Hữu Sơn, chuyên gia văn hóa dân gian, nhà dân tộc học, Viện trưởng Viện nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam, để làm rõ bài toán bảo tồn bản sắc và giữ gìn hồn cốt dân tộc trong phát triển bền vững.
Đô thị hóa và thách thức đồng hóa văn hóa
PV: Thưa TS. Trần Hữu Sơn, làn sóng hiện đại hóa và bê tông hóa đang làm thay đổi nhanh chóng diện mạo nông thôn và miền núi. Từ góc độ nghiên cứu, ông nhận diện đâu là thách thức đối với việc bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc hiện nay?
TS. Trần Hữu Sơn: Thách thức hiện nay đến từ hai "cơn lốc" lớn: đô thị hóa và toàn cầu hóa. Đô thị hóa khiến làng quê bị "phố hóa". Đi khắp Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, hiếm hoi lắm mới thấy lũy tre xanh, ao làng hay bến nước, những không gian từng gắn bó sâu sắc với đời sống cộng đồng. Lối sống công nghiệp và tư duy dịch vụ đô thị thẩm thấu khiến người ta không còn cần đến cái ao hay cái giếng làng trong cuộc sống hàng ngày.
Song song đó, toàn cầu hóa cùng sự bùng nổ của không gian mạng đang tạo ra nguy cơ "đồng hóa", khiến mọi người có xu hướng sử dụng sản phẩm và sinh hoạt giống hệt nhau. Các sắc thái văn hóa vì thế rất dễ bị cào bằng và biến đổi theo những khuôn mẫu giống nhau. Trước áp lực này, việc bảo vệ và đề cao tính đặc thù dân tộc trở thành yêu cầu mang tính sống còn. Tuy nhiên, giữ gìn bản sắc không có nghĩa là áp đặt cứng nhắc các hình thái cổ truyền vào đời sống thường nhật, mà đòi hỏi sự lựa chọn linh hoạt và tinh tế trong từng bối cảnh.
Toàn cầu hóa cũng là công cụ nếu ta biết lợi dụng. Nếu biết đưa đặc thù dân tộc vào không gian mạng, chẳng hạn như livestream giới thiệu cách thêu áo, làm món ăn hay kỹ thuật truyền thống, người dân vừa giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, vừa tạo ra thu nhập cao hơn.
Càng hội nhập sâu, tính đặc thù càng phải được đề cao. Giống như việc người Maori ở New Zealand dùng phong tục cổ truyền để đón nguyên thủ quốc gia, hay trước đây các địa phương vùng núi cao dùng điệu xòe của người Thái, múa khèn của người Mông để đón lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chính nét đặc thù đó mới tạo nên sức hấp dẫn và sức mạnh văn hóa.
Việc đưa di sản văn hóa vào đúng thời điểm thay cho những nghi thức hành chính khô cứng không chỉ tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt, mà còn khẳng định một thông điệp cốt lõi: tính đặc thù dân tộc luôn là giá trị vô giá cần được nâng niu, bảo vệ và tôn vinh đúng tầm.
“Kháng thể văn hóa” từ năng lực thích ứng, phát huy truyền thống
PV: Gần đây giới nghiên cứu nhắc đến khái niệm "sức kháng thể văn hóa". Khái niệm này được hiểu như thế nào trong bối cảnh các bản làng nông thôn, miền núi hiện nay, thưa ông?
TS. Trần Hữu Sơn: "Kháng thể văn hóa", ta nên diễn đạt một cách dân dã, học theo phong cách của Bác Hồ: đó chính là việc phát huy truyền thống của cha ông.
Nâng cao sức "kháng thể văn hóa” bản chất không nằm ở những thuật ngữ hàn lâm xa rời đời sống của người dân, mà bắt nguồn từ chính việc giữ gìn và phát huy nếp sống truyền thống tốt đẹp của cha ông. Kháng thể văn hóa chính là sức đề kháng nội sinh của một cộng đồng, được tạo thành khi lấy nền tảng di sản truyền thống kết hợp với khả năng thích ứng linh hoạt trước bối cảnh hiện đại. Lịch sử đã chứng minh năng lực thích ứng vượt trội của người Việt, từ việc linh hoạt ứng phó qua các thời kỳ kháng chiến đến khả năng tiếp nhận, biến đổi các yếu tố ngoại lai thành biểu tượng mang đậm dấu ấn bản địa.
Kháng thể lớn nhất, như một loại "vắc-xin" phòng bệnh, chính là lòng yêu nước, tình yêu và sự tôn kính đối với truyền thống tổ tiên. Khi tình yêu văn hóa dân tộc được thắp sáng trong mỗi người dân, họ sẽ tự giác tìm cách bảo tồn và ứng phó trước các nguy cơ ngoại lai hay mặt trái của toàn cầu hóa.
Luật Kiến trúc sửa đổi: Công cụ pháp lý mạnh mẽ trong tạo “kháng thể văn hóa”
PV: Việc Quốc hội đưa ra thảo luận sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc có ý nghĩa như thế nào trong việc bảo tồn không gian sống truyền thống, thưa ông?
TS. Trần Hữu Sơn: Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc không đơn thuần là xử lý thủ tục hành chính, mà đóng vai trò chiến lược trong ngăn chặn đà suy giảm bản sắc dân tộc trong kiến trúc hiện nay.
Luật Kiến trúc sửa đổi lần này chính là công cụ pháp lý mạnh mẽ trong việc cụ thể hóa Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa. Công nghiệp văn hóa muốn phát triển bắt buộc phải dựa trên tính đặc thù và nền tảng truyền thống.
Luật sẽ định hướng, tạo chế tài buộc xã hội phải tuân thủ việc bảo tồn, đưa "hồn dân tộc" vào trong từng mái nhà, cảnh quan làng bản, nhà văn hóa… Dù phát triển đến đâu thì kiến trúc đó vẫn phải mang hơi thở của người Việt, người Tày, người Mông... Bảo vệ được không gian vật thể này chính là giữ gìn được hồn cốt dân tộc trong hội nhập quốc tế.
PV: Ông đánh giá thế nào về mối quan hệ mật thiết giữa Luật Kiến trúc và công tác bảo tồn văn hóa dân tộc trong việc tạo nên “kháng thể văn hóa”?
TS. Trần Hữu Sơn: Muốn Luật Kiến trúc thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả bảo tồn, điều cốt yếu là phải khắc phục triệt để những quy định chung chung của khung pháp lý cũ, vốn là nguyên nhân khiến không gian kiến trúc bản địa bị xóa mờ.
Mối quan hệ mật thiết giữa Luật Kiến trúc và công tác bảo tồn văn hóa dân tộc thể hiện ở chỗ: Luật vừa giữ vai trò định hướng, vừa tạo lập chế tài pháp lý bắt buộc thông qua các tiêu chí cụ thể nhằm "thổi hồn" truyền thống vào từng quy hoạch, công trình. Có như vậy, kiến trúc mới phát triển đúng hướng và dù có phát triển như thế nào vẫn là kiến trúc của người Việt Nam, vẫn là kiến trúc của người Tày, người Mông, của 54 dân tộc anh em, những bông hoa đẹp trong bức tranh văn hóa Việt Nam.
Và đặc biệt Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa đã nhấn mạnh đến công nghiệp văn hóa. Mà công nghiệp muốn phát triển thì bao giờ cũng phải dựa vào đặc thù, truyền thống. Nếu không có truyền thống thì không thể có đặc thù phát triển được. Việc đưa Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc ra thảo luận để tiếp tục hoàn thiện các quy định về quy chế quản lý kiến trúc chính là bước cụ thể hóa Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị. Công nghiệp văn hóa chỉ có thể bứt phá và phát triển bền vững khi dựa trên điểm tựa cốt lõi là giá trị đặc thù và di sản truyền thống dân tộc.
Mô hình “4 nhà” và đánh giá thực chất
PV: Ngăn chặn suy giảm “kháng thể văn hóa” trong không gian sống của người dân vùng nông thôn, miền núi, chúng ta cần những giải pháp căn cơ nào, thưa tiến sĩ?
TS. Trần Hữu Sơn: Cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp từ thể chế, cán bộ đến cơ chế thực thi và kiểm tra. Thể chế hóa cụ thể và đồng bộ: Luật chỉ đưa ra khung định hướng, do đó các Nghị định và Thông tư phải quy định cực kỳ chi tiết, phân loại rõ từng cấp độ công trình. Cần áp dụng tinh thần chỉ đạo quyết liệt như của Thủ tướng Lê Minh Hưng: khi trình Luật phải trình đồng thời cả Nghị định và Thông tư hướng dẫn để áp dụng ngay vào cuộc sống, tránh tình trạng Luật chờ Nghị định.
Đào tạo cán bộ và phát huy vai trò nghệ nhân: Cán bộ cấp xã, nhất là sau khi sáp nhập địa giới hành chính, khi một xã có nhiều dân tộc, có thể thiếu kiến thức chuyên sâu về kiến trúc bản địa. Vì vậy, chính quyền không được làm thay hay áp đặt, mà phải tham vấn trực tiếp các nghệ nhân, già làng, người có uy tín tại chỗ.
Mô hình phối hợp "4 nhà": Việc tạo lập cơ chế phối hợp chặt chẽ theo mô hình "4 nhà" sẽ là một trong những giải pháp then chốt để bảo tồn và phát triển kiến trúc dân tộc một cách hiệu quả, bền vững. Trong mối liên kết đa chiều này, Nhà quản lý (chính quyền) đóng vai trò định hướng khi chỉ đạo, ban hành thể chế và thực hiện kiểm tra, giám sát. Nhà khoa học/nhà tư vấn dân tộc học giữ sứ mệnh cung cấp các căn cứ chuẩn xác về đặc trưng văn hóa, kiến trúc của từng dân tộc. Trên nền tảng đó, nhà thiết kế/chủ đầu tư chịu trách nhiệm hiện thực hóa thành các đồ án quy hoạch và công trình xây dựng cụ thể.
Đáng chú ý, cộng đồng với hạt nhân là các già làng, trưởng bản, nghệ nhân và người có uy tín, chính là chủ thể trực tiếp đóng góp ý kiến thực chất và thực hiện quyền giám sát. Sự vận hành đồng bộ của "4 nhà" bảo đảm mọi công trình vừa chuẩn xác về mặt khoa học, chặt chẽ về pháp lý, vừa giữ được linh hồn bản sắc và nhận được sự đồng thuận cao từ nhân dân.
Kiểm tra, hậu kiểm và đánh giá chính sách: Cần có khâu hậu kiểm và đánh giá hiệu quả chính sách sau khi ban hành. Đồng thời, cũng nên có chế tài xử phạt công khai các vi phạm về kiến trúc để răn đe, đồng thời định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm phải đánh giá lại tác động của chính sách với sự tham gia giám sát của cộng đồng.
Bài học từ lợi ích thực chất
PV: Theo ông, đâu là chìa khóa cốt lõi để người dân tự giác trở thành lực lượng bảo vệ bản sắc không gian sống của mình?
TS. Trần Hữu Sơn: Chìa khóa chính là lợi ích thực chất. Tuyên truyền chung chung sẽ không mang lại hiệu quả nếu người dân không thấy được giá trị thiết thân.
Bài học tại làng Choản Thèn, xã Y Tý, tỉnh Lào Cai là minh chứng rõ nhất. Ban đầu, chúng tôi vận động và hỗ trợ bảo tồn 5 ngôi nhà trình tường cổ truyền. Sau một thời gian, người dân nhận thấy giữ được kiến trúc cổ sẽ thu hút du khách, phát triển được du lịch và tạo ra thu nhập trực tiếp. Kết quả là 5 năm sau quay lại, khoảng 70% số nhà trong làng đã tự giác giữ gìn và làm theo kiến trúc truyền thống.
Khi người dân thấy việc giữ gìn bản sắc mang lại lợi ích kinh tế và nâng cao đời sống, họ sẽ tự giác bảo vệ. Khi đó, "kháng thể văn hóa" sẽ tự hình thành bền vững từ chính bên trong cộng đồng.
PV: Xin cảm ơn TS. Trần Hữu Sơn!