Quảng Trị: Chuyển đổi số góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành
VOV.VN - Chuyển đổi số đang từng bước trở thành nhiệm vụ thường xuyên trong hoạt động của hệ thống chính trị tỉnh Quảng Trị, góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nâng cao chất lượng tham mưu và hiệu quả hoạt động của các cơ quan Đảng, chính quyền.
Sáng nay (12/8), Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Quảng Trị (Ban Chỉ đạo 57) tổ chức sơ kết 1 năm thực hiện Kế hoạch hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị.
Hiện nay, tỉnh Quảng Trị đang triển khai 54 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, gồm 45 nhiệm vụ cấp tỉnh và 9 nhiệm vụ cấp cơ sở. Nhiều nhiệm vụ tập trung ứng dụng công nghệ sinh học, IoT, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, tự động hóa trong sản xuất, chế biến sản phẩm chủ lực. Đến nay, hơn 55% số nhiệm vụ đã nghiệm thu giai đoạn 2021-2025 được triển khai ứng dụng và nhân rộng.
Trong xây dựng chính quyền số, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, tỉnh đã hoàn thành tích hợp 100% dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính được số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết đạt 95%. Hệ thống theo dõi nhiệm vụ của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đã hỗ trợ theo dõi, đôn đốc tiến độ 1.754 nhiệm vụ đã giao cho các đơn vị, địa phương. Ông Hồ Văn Thành, Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Quảng Trị thông tin: “Việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính là bước chuyển từ quản lý địa bàn sang phục vụ theo nhu cầu của người dân. Đây là một trong những giải pháp trọng tâm để triển khai kế hoạch hành động 09 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị. Sau khi triển khai, số lượng giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện tăng liên tục và khẳng định đây là mô hình đang đi vào thực chất để giúp người dân và doanh nghiệp”.
Thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, nhiều mô hình mới, cách làm sáng tạo xuất hiện từ cơ sở được duy trì, nhân rộng, thể hiện rõ việc lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy thực tiễn làm thước đo hiệu quả.
Chuyển đổi số từng bước trở thành nhiệm vụ thường xuyên trong chương trình công tác của các cơ quan, đơn vị, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp của Đảng đã được triển khai đồng bộ từ cấp tỉnh đến cấp xã. Toàn tỉnh có hơn 73.000 đảng viên cài đặt, sử dụng phần mềm; trên 15.600 cuộc sinh hoạt chi bộ được tổ chức trên nền tảng số.
Toàn bộ hồ sơ cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý đã nghỉ hưu được chỉnh lý, số hóa, tạo nền tảng xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung.
Tuy nhiên, tiến độ xây dựng, chuẩn hóa, kết nối, khai thác dữ liệu chuyên ngành còn chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn nhân lực công nghệ thông tin, chuyển đổi số, nhất là nhân lực chuyên sâu về an ninh mạng, khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo còn thiếu. Hạ tầng kỹ thuật giữa các vùng, nhất là miền núi, ven biển chưa đồng đều; tiến độ giải ngân kinh phí cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số còn thấp so với kế hoạch.
Ông Nguyễn Văn Phương, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, Trưởng Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Quảng Trị đề nghị, các đơn vị, địa phương cần bám sát chỉ đạo của Trung ương, nhất là Kế hoạch hành động 100 ngày tập trung xử lý dứt điểm các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị; quán triệt sâu sắc nguyên tắc “6 rõ - một đầu mối xuyên suốt”.
Theo ông Nguyễn Văn Phương, thời gian tới, tỉnh tiếp tục phát triển đồng bộ hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, các nền tảng số dùng chung; đẩy nhanh xây dựng, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, gắn kết quả thực hiện với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và trách nhiệm của người đứng đầu.
“Trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số cần nâng hàm lượng khoa học ở trong doanh nghiệp lên, đây là một trong những mục tiêu cốt lõi của Nghị quyết 57. Ngành Khoa học Công nghệ cũng đưa ra được các bài toán, bây giờ cần phải hiện thực hóa bằng các dự án, các giải pháp và bố trí nguồn lực để triển khai”.