Thách thức phía sau những ca can thiệp tim bào thai tại Việt Nam
VOV.VN - Trong 2 năm qua, ê-kíp phối hợp giữa Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện 14 ca can thiệp tim bẩm sinh cho thai nhi. Trong đó, 13/14 ca thành công về mặt kỹ thuật, đạt tỷ lệ hơn 92%.
Tại Hội nghị Sản phụ khoa Việt – Pháp - Châu Á - Thái Bình Dương ngày 14/5, BS.CKII Trịnh Nhựt Thư Hương, Trưởng Khoa Chăm sóc trước sinh, Bệnh viện Từ Dũ cho biết can thiệp tim bào thai là kỹ thuật thuộc nhóm khó nhất trong y học bào thai hiện nay, đòi hỏi ê-kíp đa chuyên khoa phối hợp tuyệt đối chính xác, xử trí biến chứng tức thì và kiểm soát mọi tình huống ngay trong từng giây trên bàn can thiệp.
Đáng chú ý, nhóm bệnh lý tim phải như không lỗ van động mạch phổi hoặc hẹp van động mạch phổi nặng chiếm khoảng 3/4 số ca tại Việt Nam, khác với châu Âu - nơi bệnh lý tim trái thường gặp hơn.
BS Hương cho biết, mục tiêu cao nhất của can thiệp bào thai không chỉ là thực hiện thành công thủ thuật mà còn giúp trẻ đạt được tuần hoàn hai thất sau sinh - tức cấu trúc tim hoạt động gần bình thường. Với nhóm bệnh tim phải được can thiệp thành công, tỷ lệ đạt tuần hoàn hai thất hiện đạt 100%.
Những em bé đầu tiên được can thiệp bào thai, nay đã hơn 2 tuổi, đi học nhà trẻ, phát triển gần như bình thường.
Tuy nhiên, phía sau kết quả này là hàng loạt thách thức kỹ thuật. Theo BS Hương, khó khăn đầu tiên là phải đưa thai nhi về đúng tư thế thuận lợi để can thiệp. Có trường hợp ê-kíp mất gần 2 giờ điều chỉnh tư thế nhưng vẫn phải dừng thủ thuật và chờ một tuần sau mới thực hiện lại được.
Bên cạnh đó, thai nhi phải được gây giảm đau, giãn cơ để giữ bất động trong suốt quá trình can thiệp. Các bác sĩ cũng phải chuẩn bị sẵn thuốc hồi sức, thuốc xử trí nhịp tim chậm hay tràn máu màng ngoài tim - những biến chứng có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Đáng nói, nếu việc can thiệp quá sớm, nguy cơ thủ thuật sẽ tăng cao; nhưng nếu quá muộn, thai nhi có thể mất “cửa sổ điều trị”, khiến can thiệp không còn nhiều ý nghĩa. Một số trường hợp được xem là chống chỉ định tuyệt đối vì can thiệp có thể khiến tình trạng tim thai nặng hơn. Do đó, ê-kíp phải đánh giá rất kỹ trước khi quyết định thực hiện.
Theo các chuyên gia, các trung tâm lớn trên thế giới như Boston (Mỹ) hay Vienna (Áo) hiện cũng chỉ ghi nhận tỷ lệ đạt tuần hoàn hai thất khoảng 50-60% ở một số nhóm bệnh phức tạp. Vì vậy, kết quả bước đầu của ê-kíp Việt Nam được xem là rất khả quan.
BS.CKII Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ cho biết can thiệp tim bào thai xuyên tử cung hiện là một trong những kỹ thuật khó và phức tạp nhất của y học bào thai. Việc 2 bệnh viện cùng phối hợp đã từng bước làm chủ kỹ thuật này cho thấy năng lực chuyên môn của y học Việt Nam đang tiệm cận các trung tâm lớn trên thế giới.
Các chuyên gia từ những trung tâm lớn trên thế giới cũng tham gia hội chẩn, đào tạo, sẵn sàng phối hợp chẩn đoán, điều trị các ca bệnh khó khi cần thiết. Thời gian tới, bệnh viện sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật nhằm mở rộng khả năng tiếp cận can thiệp bào thai cho người bệnh tại Việt Nam.
"Trong kỹ thuật can thiệp bảo thai giống như tôn chỉ của ngành y khoa là tất cả ai còn cơ hội là chúng ta sẽ giữ lại và không để ai ở lại phía sau. Tất cả những kỹ thuật tiên tiên nhất chúng ta đều sử dụng và mọi người dân ở Việt Nam đều được tiếp cận với những kỹ thuật cao nhất, tiên tiên nhất với chi phí mà ở Việt Nam có sự hỗ trợ", BS Trần Ngọc Hải nói.
Diễn ra trong hai ngày 14 và 15/5 tại TP.HCM, Hội nghị Sản phụ khoa Việt - Pháp - châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 26 (OGVFAP 2026) quy tụ nhiều chuyên gia đầu ngành trong nước và quốc tế đến từ Anh, Mỹ, Pháp, Úc, Hàn Quốc, Singapore…
Hội nghị có gần 90 báo cáo khoa học, workshop và phiên thảo luận chuyên sâu về các lĩnh vực sản phụ khoa hiện đại. Trong đó, chủ đề can thiệp bào thai và y học bào thai hiện đại là điểm nhấn với nhiều báo cáo về can thiệp tim bào thai, điều trị dị tật ngay trong tử cung và theo dõi thai kỳ nguy cơ cao.