Thay đổi tư duy chống ngập: Kết hợp hạ tầng xám và dựa vào thiên nhiên
VOV.VN - Tình trạng ngập lụt tại TP.HCM không còn là hiện tượng đơn lẻ mà là hệ quả của một chuỗi các tác động phức tạp. Sau hơn 20 năm đầu tư nhiều chương trình chống ngập quy mô lớn, nhưng công tác chống ngập tại Thành phố vẫn “loay hoay”.
Xác định được các vấn đề trọng tâm, các điểm nghẽn và nhu cầu ưu tiên, Sở Xây dựng Thành phố đang xây dựng Đề án chống ngập và xử lý nước thải giai đoạn 2026 - 2060 cùng Kế hoạch chống ngập và xử lý nước thải giai đoạn 2026 - 2036.
Xoay quanh vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Hồng Quân - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn (ICED), Đại học Quốc gia TP.HCM sẽ chia sẻ những góc nhìn chuyên sâu và tư duy mới trong công tác chống ngập đô thị.
PV: Thưa PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, ông đánh giá thế nào về việc Đề án chuyển sang cách tiếp cận tổng hợp kinh nghiệm về tổ chức quản lý nước đô thị tích hợp, vận hành theo thời gian thực, nguyên tắc “Giữ - Trữ - Thoát”?
PGS.TS Nguyễn Hồng Quân: Bài toán ngập lụt của TP.HCM thời gian qua không chỉ là vấn đề riêng của TP.HCM hay các thành phố lớn ở Việt Nam, mà còn là thách thức của các đô thị quy mô khác nhau trên thế giới, bao gồm cả các quốc gia phát triển và đang phát triển.
Đây là bài toán rất lớn và đầy thách thức mà hầu như tất cả các thành phố đã và đang gặp phải. Việc TP.HCM “loay hoay” trong nhiều năm qua liên quan đến vấn đề này cũng là điều đa phần các đô thị đều gặp phải. Ngập lụt đô thị bao gồm rất nhiều yếu tố phức tạp, như việc chúng ta xây dựng cơ sở hạ tầng thoát nước, giảm ngập. Từ trước đến nay, chúng ta chủ yếu xoay quanh bài toán thoát nước. Quá trình đô thị hóa kết hợp biến đổi khí hậu làm gia tăng cường độ mưa. Nếu chỉ làm theo cách truyền thống là “thoát nước”, chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Do đó, trong khuôn khổ Đề án vừa đề cập, việc áp dụng nguyên tắc “Giữ - Trữ - Thoát” là cách tiếp cận rất phù hợp, đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Đặc biệt là các quốc gia có nghiên cứu rất sâu và có thế mạnh về quản lý nước, quản lý ngập lụt như Hà Lan, Đức, Anh, Úc, Trung Quốc... Nội hàm ban đầu của Đề án cho thấy nhiều tín hiệu rất tích cực.
PV: Sau nhiều năm đầu tư hàng chục nghìn tỉ đồng, nhưng tình trạng ngập ở TP.HCM vẫn chưa được cải thiện triệt để. Vậy thưa ông, đâu là nguyên nhân gốc rễ?
PGS.TS Nguyễn Hồng Quân: Cách tiếp cận cũ, đặc biệt là về các công trình thời gian qua, chúng ta nhận thấy rằng đó chưa phải là giải pháp đó chưa phải là giải pháp chống ngập toàn diện. Kể cả khi thực hiện xong, giải pháp đó vẫn chưa đảm bảo giảm ngập 100% vì tập trung nhiều vào yếu tố ngăn triều từ bên ngoài vào. Còn bài toán thoát nước bên trong phạm vi của công trình ngăn triều. Nên phải khẳng định, cống ngăn triều không phải là giải pháp toàn diện.
Thứ hai, các giải pháp này hiện vẫn chưa đi vào vận hành thực tế hoàn chỉnh để có thể đánh giá chính xác tính hiệu quả. Một hệ thống vận hành ổn định đòi hỏi kết nối đồng bộ giữa công trình ngăn triều, trạm bơm, đê bao và hệ thống thoát nước bên trong.
Vì vậy, chúng ta phải tiếp tục có những giải pháp căn cơ, sâu rộng hơn. Tôi nghĩ Sở Xây dựng đã nhận thấy các vấn đề này và có những tín hiệu rất tích cực thông qua việc lập Đề án.
PV: Theo Sở Xây dựng TP.HCM, các quy hoạch chống ngập trước đây không còn phù hợp do xây dựng trên kịch bản mưa, triều và mực nước biển của hơn 20 năm trước, biến đổi khí hậu hay sự thay đổi không gian đô thị mới. Thưa ông, ở góc độ khoa học, tốc độ sụt lún nền đất đô thị hiện nay đang ảnh hưởng thế nào đến tuổi thọ và hiệu quả của các dự án chống ngập hiện hữu?
PGS.TS Nguyễn Hồng Quân: Thực tế cũng cần nhìn nhận khách quan là một số điểm ngập cũ trước đây đã được cải thiện, nhưng đồng thời lại xuất hiện thêm các điểm ngập mới hoặc lan ra vùng ven. Tốc độ đô thị hóa nhanh khiến không gian vùng biên mở rộng, trong khi quy hoạch hạ tầng thoát nước và quản lý đô thị chung của các khu vực này chưa kịp đáp ứng.
Về vấn đề sụt lún, đây là thách thức lớn mà nhiều đô thị trên thế giới gặp phải (như Bangkok - Thái Lan, Jakarta - Indonesia, ...) Tại TP.HCM, các nghiên cứu khoa học trong 20 năm qua đã chỉ ra hiện tượng sụt lún xảy ra ở nhiều khu vực.
Hạn chế trước đây là yếu tố sụt lún chưa được đưa vào các tính toán quy hoạch, thiết kế công trình và dự báo mực nước. Thành phố đã nhận diện được và có giải pháp kiểm soát, điển hình là quản lý chặt chẽ việc khai thác nước ngầm (nguyên nhân chính gây sụt lún) trong hoạt động công nghiệp, dịch vụ và dân sinh.
Tốc độ sụt lún có thể đã giảm trong thời gian qua, nhưng để tích hợp yếu tố này vào bộ số liệu cao độ địa hình và mực nước - làm căn cứ thiết kế hạ tầng là điều bắt buộc. Chúng ta phải có bộ số liệu tích hợp này để đưa ra các thiết kế công trình phù hợp với điều kiện địa hình thực tế.
PV: Thưa chuyên gia, việc tích hợp hạ tầng xám với hạ tầng xanh, hạ tầng xanh – dương và các giải pháp dựa vào thiên vào chống ngập đô thị là hướng đi hiện đại. Tuy nhiên, với một đô thị đã bê-tông hóa rất sâu như TP.HCM, đâu là rào cản lớn nhất để chuyển đổi từ tư duy sang mô hình kết hợp này?
PGS.TS Nguyễn Hồng Quân: Tôi rất vui khi nghe cụm từ “giải pháp dựa vào thiên nhiên” đã được đưa vào Đề án này. Đây là một cách tiếp cận tiến bộ hiện nay. Giải pháp này đề cập đến việc làm thế nào đưa các yếu tố hài hoà liên quan đến dòng chảy tự nhiên, quá trình thấm tự nhiên và tăng cường quy luật tự nhiên đưa vào các hạ tầng thiết kế. Thiên nhiên ở đây bao hàm nghĩa rộng hơn, là các yếu tố về sinh thái, môi trường, và kể cả góc độ xã hội – kinh tế trong sự phát triển.
PV: Xu hướng thế giới đang chuyển từ “ngăn nước” sang “sống chung, dành không gian cho nước”. Theo ông, giải pháp nào là tối ưu cho đặc thù địa chất và quy hoạch hiện tại, đặc biệt là việc chọn lọc mô hình quản lý nước - chống ngập quốc tế có khả năng tham khảo cho siêu đô thị TP.HCM?
PGS.TS Nguyễn Hồng Quân: Chúng ta vẫn phải kết hợp giữa hạ tầng xám (công trình truyền thống như cống, đê bao, trạm bơm, nhà máy xử lý nước thải) và hạ tầng xanh - xanh dương/giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS). Trên thế giới, các mô hình như “Thành phố bọt biển” (Trung Quốc), “Đô thị nhạy cảm với nước” (Úc), hay hệ thống thoát nước bền vững (châu Âu) đều áp dụng tích hợp cả công trình cứng lẫn giải pháp mềm.
Ý nghĩa quan trọng của hạ tầng mềm không chỉ nằm ở bài toán giảm ngập, mà còn ở đa giá trị: Thứ nhất, nó không chỉ giảm ngập lụt mà còn cải thiện vi khí hậu, giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, tăng không gian xanh, mặt nước.
Bên cạnh đó là gia tăng giá trị kinh tế và bất động sản như tạo không gian sống chất lượng cao, nâng cao sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, hiện nay, các dự án thường chỉ chú trọng cảnh quan chứ chưa tích hợp công năng giảm ngập, để cùng nhau giải bài toán đó. Nếu các mục tiêu kết nối được với nhau thì có thể huy động nguồn lực từ khối tư nhân chứ không chỉ dựa vào ngân sách nhà nước.
PV: Trân trọng cảm ơn ông!
Một trong những định hướng chiến lược của Đề án chống ngập và xử lý nước thải giai đoạn 2026 - 2060 cùng Kế hoạch chống ngập và xử lý nước thải giai đoạn 2026 - 2036 là ưu tiên cách tiếp cận hiện đại, trong đó hạ tầng xám như cống, đê bao, trạm bơm, cống ngăn triều và nhà máy xử lý nước thải được kết hợp với hạ tầng xanh, hạ tầng xanh – dương và giải pháp dựa vào thiên nhiên như hồ điều hoà, không gian trữ nước, bề mặt thấm, phục hồi kênh rạch, vùng trũng sinh thái và cảnh quan mặt nước đô thị. Quan điểm này giúp tăng khả năng điều tiết nước, giảm áp lực cho hệ thống cống, nâng cao chất lượng môi trường và tăng sức chống chịu của đô thị trước các điều kiện cực đoan.
Bên cạnh đó, xây dựng Chiến lược quản lý rủi ro ngập (Flood Risk Management – FRM) giai đoạn 2026-2060, bao gồm các hợp phần: bảo vệ phòng lũ, giảm phơi lộ và nhạy cảm, tăng cường ứng phó và phục hồi; xác định phân vùng rủi ro ngập theo mức độ ưu tiên và đề xuất định hướng kiểm soát ngập và các lưu vực thoát nước chính trên địa bàn Thành phố.