Du lịch tàu biển Việt Nam cần được "tiếp sức"
VOV.VN - Ngành du lịch tàu biển tại Đông Nam Á tạo ra sản lượng kinh tế trên 10 tỷ USD vào năm 2024, nhưng Việt Nam mới khai thác được một phần nhỏ. Đón khoảng 248.100 lượt khách so với 3,9 triệu lượt khách tàu biển trong khu vực, bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh đang trở nên cấp bách với du lịch tàu biển Việt Nam.
Dù Đông Nam Á chỉ đón khoảng 3,9 triệu lượt hành khách tàu biển trong năm 2024, tương đương 2% trong tổng số 186 triệu lượt khách toàn cầu, nhưng giá trị kinh tế mang lại rất ấn tượng, theo một báo cáo mới công bố của tổ chức Tourism Economics và Hiệp hội các hãng du lịch tàu biển quốc tế (CLIA) phối hợp với Cơ quan Du lịch Singapore (STB) thực hiện.
Cụ thể, tổng sản lượng kinh tế từ ngành du lịch tàu biển của Đông Nam Á là 10 tỷ USD và hỗ trợ hơn 529.000 việc làm vào năm 2024. Mức tác động kinh tế bình quân trên mỗi lượt khách đến khu vực này đạt tới 2.564 USD, cao gấp 2,4 lần so với mức trung bình của thế giới.
Tuy nhiên, trong bức tranh toàn cảnh của khu vực Đông Nam Á, thị phần về doanh thu, lượng khách và giá trị kinh tế mà Việt Nam nhận được từ du lịch tàu biển vẫn ở mức rất khiêm tốn. Năm 2024, Việt Nam chỉ thu khoảng 208 triệu USD, tương đương khoảng 2% của toàn khu vực (xếp thứ 6/9 quốc gia được đánh giá trong báo cáo, trừ Lào không có đường biển), với khoảng 248.100 lượt khách đến bằng đường biển, chỉ chiếm 1,4% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong cùng năm. Năm 2025, con số này đạt 273.900 lượt khách (tăng 10,4%) và chỉ chiếm 1,3% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam.
Xét về doanh thu và tác động kinh tế tại Đông Nam Á, Việt Nam chỉ xếp trên nhóm các quốc gia có ngành du lịch tàu biển kém phát triển hoặc bị hạn chế như Myanmar, Campuchia và Brunei. Lĩnh vực này mới chỉ hỗ trợ gần 10.000 việc làm tại Việt Nam (trực tiếp và gián tiếp), một con số khá nhỏ, nếu so sánh với khoảng 529.000 việc làm của cả khu vực Đông Nam Á.
Để du lịch tàu biển Việt Nam không tụt hậu
Chia sẻ với phóng viên VOV, các chuyên gia trong ngành thừa nhận thực trạng du lịch tàu biển Việt Nam kém sức cạnh tranh ngay tại Đông Nam Á đã tồn tại từ nhiều năm qua. Sự thiếu vắng các chiến lược tiếp thị quy mô lớn, điểm nghẽn hạ tầng cảng biển và thiếu đồng bộ trong cơ chế phối hợp các dịch vụ hậu cần đang là những rào cản đáng kể. Với đặc thù du lịch tàu biển, tính ổn định của điểm đến cùng các thủ tục, dịch vụ là đặc biệt quan trọng.
Về mặt hạ tầng, ngoại trừ một số cảng chuyên dụng đón tàu du lịch như Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long (Quảng Ninh) hay Ana Marina Nha Trang (Khánh Hòa), hầu hết các cảng lớn đang đón khách trên thực tế ở Việt Nam như tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Huế, Đà Nẵng đều là cảng hàng hóa được thí điểm đón tàu khách. Khi các cảng này đón khối lượng lớn tàu hàng hóa, nhất là tại TP.HCM, các hãng tàu du lịch thường rơi vào thế bị động. Tiếp đó, việc thay đổi bến, kéo theo thay đổi chương trình du lịch trên bờ (land tour) làm mất đi tính ổn định và nản lòng du khách, trong khi các hãng tàu quốc tế thường lên lịch trình bán tour trước từ 1-2 năm.
Hiện nay, giới chuyên môn đang kiến nghị khẩn thiết việc sớm đầu tư bến cảng chuyên dụng cho tàu du lịch tại khu vực phía Nam để kết nối hạ tầng trực tiếp về TP.HCM, nơi được mệnh danh là "Paris của Việt Nam trên bản đồ hải trình quốc tế". Tại Khánh Hòa, cần có chiến lược phát triển và hiện đại hóa cảng tàu (Ana Marina, Cảng quốc tế Cam Ranh…) để tăng năng lực đón tàu lớn và giảm tính phụ thuộc.
Các quy trình và thủ tục hành chính với du khách, thuyền viên khi đến Việt Nam cũng là rào cản lớn khiến các hãng tàu ngần ngại. Việt Nam chưa có cơ chế nhập cảnh riêng để đón tàu du lịch cỡ lớn đưa 3.000 - 5.000 khách lên bờ đi tham quan một lúc. Với những tàu cỡ lớn, lực lượng chức năng còn mỏng và phương thức đối soát thủ công đang tạo ra áp lực rất lớn cho cả hãng tàu và phía Việt Nam. Thực tế đã ghi nhận, có trường hợp việc đóng dấu hộ chiếu kéo dài đến cuối buổi chiều mới hoàn tất (dù tàu rời đi ngay trong đêm). Do đó, trường hợp có sự cố hay thay đổi lịch trình, các hãng tàu quốc tế thường chọn sang quốc gia lân cận, nếu điểm đến Việt Nam không kịp bố trí phương án nhập cảnh.
Để giải quyết triệt để, các bên liên quan cần sớm phối hợp thiết lập cơ chế đón tiếp riêng cho tàu cỡ lớn, áp dụng thông quan điện tử và cho phép thuyền viên nhập cảnh bằng sổ thay vì giấy phép đi bờ nhằm giảm tải giấy tờ và con dấu. Các ban ngành và địa phương cần tổ chức các phiên kết nối trực tiếp với đại diện những hãng tàu lớn và đại lý lữ hành quốc tế nhằm hoạch định các chiến lược tiếp thị, xây dựng chuỗi sản phẩm trải nghiệm chuyên biệt để định vị Việt Nam như điểm đến không thể bỏ qua trên bản đồ hàng hải quốc tế.
Nhìn chung, để nâng cao sức cạnh tranh, gia tăng thị phần du lịch tàu biển tại Đông Nam Á, Việt Nam cần có chiến lược đầu tư bài bản, nâng cấp toàn diện từ cơ sở hạ tầng bến bãi đến quy trình đón khách. Các địa phương cần chuẩn hóa dịch vụ đón tiếp tàu và hành khách, trong đó các quy trình hải quan - y tế - an ninh nhanh gọn, chuyên nghiệp nhằm tạo ấn tượng tốt đẹp cho du khách quốc tế.