Hải Phòng thu hút FDI chất lượng cao, tạo sức lan tỏa
VOV.VN - Với lợi thế về cảng biển, logistics, hạ tầng công nghiệp và vị trí trong chuỗi cung ứng khu vực, Hải Phòng đang đứng trước cơ hội đón dòng vốn FDI thế hệ mới. Thành phố sẽ lựa chọn và tạo điều kiện thế nào để dòng vốn này thực sự tạo giá trị lâu dài?
Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW, thu hút FDI không chỉ chạy theo số lượng vốn, mà phải ưu tiên những dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, thân thiện môi trường và tạo sức lan tỏa cho kinh tế trong nước. Phóng viên Đài TNVN phỏng vấn bà Nguyễn Thị Bích Dung, Phó trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng:
PV: Thưa bà, Hải Phòng đang chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang ưu tiên chất lượng. Vậy Ban Quản lý Khu kinh tế sẽ dựa vào những tiêu chí nào để lựa chọn các dự án FDI phù hợp với định hướng phát triển của thành phố?
Bà Nguyễn Thị Bích Dung: Việc chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang ưu tiên chất lượng là định hướng nhất quán, xuyên suốt của TP Hải Phòng, cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố, gắn với mục tiêu xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố công nghiệp hiện đại, trung tâm kinh tế biển của cả nước.
Trên cơ sở đó, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng xác định bộ tiêu chí sàng lọc, lựa chọn dự án FDI trên năm nhóm nội dung cốt lõi như sau:
Một là, tiêu chí về công nghệ: ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ nguồn, công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, kiên quyết không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu tốn nhiều tài nguyên, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm. Thành phố cũng đã xây dựng một danh mục các dự án ưu tiên và khuyến khích đầu tư cũng như danh mục của các dự án không khuyến kích đầu tư để làm căn cứ. Trên cơ sở đó chúng tôi sẽ vận động, thu hút các nhà đầu tư cũng như sàng lọc ngay từ giai đoạn bắt đầu.
Hai là, tiêu chí về hiệu quả kinh tế: xem xét suất đầu tư trên một đơn vị diện tích đất, giá trị gia tăng, mức đóng góp cho ngân sách và năng suất lao động, thay vì chỉ nhìn vào quy mô vốn đăng ký.
Ba là, tiêu chí về liên kết và lan tỏa: ưu tiên các dự án có khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu và có cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ.
Bốn là, tiêu chí về sử dụng lao động: khuyến khích các dự án sử dụng lao động chất lượng cao, hạn chế các dự án thâm dụng lao động phổ thông, gây áp lực lớn lên hạ tầng xã hội.
Năm là, tiêu chí về sự phù hợp quy hoạch: dự án phải phù hợp với quy hoạch chung thành phố, quy hoạch phân khu các khu kinh tế, khu công nghiệp và định hướng ngành, nghề thu hút đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt bảo đảm mỗi dự án được chấp thuận không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững, lâu dài của thành phố.
Với những nỗ lực của thành phố trong thời gian qua, Hải Phòng luôn luôn đứng trong top đầu các địa phương thu hút FDI của cả nước. Tính từ đầu năm đến nay, thành phố đã thu hút được hơn 3,2 USD FDI, trong đó rất nhiều dự án công nghệ cao, các dự án có sức lan tỏa và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng. Đặc biệt, tập đoàn LG Innotek trong tháng 6 vừa rồi đã quyết định đầu tư tại Hải Phòng với dự án sản xuất về bán dẫn với trị giá tổng vốn đầu tư hơn 1 tỷ USD.
PV: Hải Phòng có lợi thế lớn về cảng biển, logistics và công nghiệp. Theo bà, những lĩnh vực nào sẽ được thành phố ưu tiên để thu hút các tập đoàn đa quốc gia, đặc biệt là các dự án công nghệ cao, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu?
Bà Nguyễn Thị Bích Dung: Chúng tôi rất tự hào với những lợi thế đặc biệt của Hải Phòng mà nhiều địa phương không có như: hệ thống cảng biển nước sâu Lạch Huyện, cửa ngõ ra biển của cả khu vực phía Bắc, kết nối đồng bộ với mạng lưới cao tốc, đường sắt, cảng hàng không quốc tế Cát Bi và hệ thống các khu công nghiệp, khu kinh tế đã hình thành tương đối hoàn chỉnh. Đây chính là nền tảng để chúng tôi định hướng thu hút đầu tư có chọn lọc theo các nhóm ngành, lĩnh vực ưu tiên:
Thứ nhất, là công nghiệp công nghệ cao, điện tử, bán dẫn - lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn, phù hợp với xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay.
Thứ hai, là cơ khí chế tạo, sản xuất, lắp ráp ô tô, thiết bị công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ đi kèm, phát huy nền tảng công nghiệp chế biến, chế tạo mà Hải Phòng đã xây dựng được trong những năm qua.
Thứ ba, là dịch vụ logistics cảng biển, kho vận, trung tâm trung chuyển quốc tế - lĩnh vực khai thác trực tiếp lợi thế cửa ngõ hàng hải của thành phố.
Thứ tư, là năng lượng mới, năng lượng tái tạo, trong đó có điện gió ngoài khơi và các dự án hướng tới kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Thứ năm, là kinh tế số, trung tâm dữ liệu và các dịch vụ công nghệ thông tin gắn với chuyển đổi số.
Với những lĩnh vực này, chúng tôi tập trung xúc tiến đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào các tập đoàn đa quốc gia có uy tín, tiềm lực tài chính, công nghệ và mạng lưới chuỗi cung ứng rộng, để các dự án này trở thành hạt nhân, kéo theo hệ sinh thái các nhà đầu tư vệ tinh, nhà cung cấp cấp một, cấp hai đi theo, qua đó gia tăng chiều sâu và giá trị của dòng vốn FDI vào Hải Phòng, thay vì chỉ dừng lại ở quy mô vốn đăng ký.
Hiện nay rất nhiều tên tuổi lớn trên thế giới trong lĩnh vực cảng biển, Logistic cũng đã có mặt ở Hải Phòng như: MAERSK, MSC, APMApm. Chúng tôi cũng hy vọng rằng trong tương lai cùng với sự đóng góp của các tập đoàn lớn này sẽ là sự lớn mạnh của các công ty, doanh nghiệp, các tập đoàn trong nước cũng như của Hải Phòng, các lĩnh vực tương thích để chúng ta có thể có một vị thế và chỗ đứng trong chuỗi cung ứng logistic toàn cầu cũng như thúc đẩy hỗ trợ sản xuất công nghiệp và các lĩnh vực sản xuất khác của cả nước.
PV: Vậy làm thế nào để doanh nghiệp FDI không chỉ sản xuất, xuất khẩu tại Hải Phòng mà còn tạo liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, từ đó thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tạo sức lan tỏa cho nền kinh tế địa phương? Thưa bà?
Bà Nguyễn Thị Bích Dung: Thực ra đây là câu hỏi mà Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đặc biệt trăn trở, bởi mục tiêu cuối cùng của thu hút FDI không chỉ là con số vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu, mà là giá trị thực sự lan tỏa cho nền kinh tế trong nước. Để làm được điều này, chúng tôi xác định phải triển khai đồng bộ một số nhóm giải pháp khác nhau:
Trước hết, chủ động kết nối cung - cầu giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước thông qua các chương trình xúc tiến, hội chợ kết nối chuỗi cung ứng, xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn, để nhà đầu tư nước ngoài có thông tin đầy đủ, thuận lợi khi tìm kiếm nhà cung cấp nội địa.
Thứ hai, khuyến khích và đưa vào nội dung làm việc, thỏa thuận hợp tác với các nhà đầu tư chiến lược những cam kết cụ thể về sử dụng nhà cung cấp trong nước, chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ sư, công nhân kỹ thuật Việt Nam ngay trong quá trình triển khai dự án.
Thứ ba, đồng hành hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước nâng cao năng lực, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, quản trị, môi trường mà các tập đoàn FDI yêu cầu, thông qua các chương trình đào tạo, tư vấn chuyển đổi số và hỗ trợ tiếp cận chứng chỉ quốc tế.
Thứ tư, tiếp tục quy hoạch, phát triển các khu, cụm công nghiệp hỗ trợ chuyên sâu để tạo không gian cho doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, mở rộng sản xuất ngay cạnh các nhà đầu tư FDI lớn, rút ngắn khoảng cách logistics và tăng khả năng tham gia chuỗi.
Cùng với đó, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng xác định rõ vai trò là đầu mối một cửa, đồng hành cùng nhà đầu tư trong suốt vòng đời dự án, đồng thời là cầu nối tích cực giữa doanh nghiệp FDI và cộng đồng doanh nghiệp trong nước. Chúng tôi tin rằng, khi việc lựa chọn dự án được thực hiện có chọn lọc theo tiêu chí chất lượng, cùng với các giải pháp thúc đẩy liên kết bài bản, dòng vốn FDI thế hệ mới sẽ không chỉ mang lại tăng trưởng về quy mô mà còn tạo động lực chuyển đổi thực chất cho nền kinh tế Hải Phòng, đúng như tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đề ra.
PV: Xin trân trọng cám ơn bà!