Quy định mới về hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu từ 22/7
VOV.VN - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định cụ thể về danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu.
Theo đó, hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu được thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành và Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định. Căn cứ danh mục này, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm công bố chi tiết từng mặt hàng kèm mã số HS, trừ trường hợp pháp luật đã có quy định cụ thể.
Đáng chú ý, Nghị định quy định cấm nhập khẩu các sản phẩm, hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bằng hành vi cưỡng bức lao động từ các doanh nghiệp, quốc gia, vùng lãnh thổ phù hợp với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.
Theo Phụ lục I của Nghị định, danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu gồm nhiều mặt hàng như: vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ; gỗ tròn, gỗ xẻ từ gỗ rừng tự nhiên trong nước; kim cương thô thuộc diện cấm xuất khẩu theo Quy chế Chứng nhận Quy trình Kimberley; thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng...
Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu gồm: vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ; pháo các loại (trừ pháo hiệu an toàn hàng hải theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng); đèn trời; các thiết bị gây nhiễu máy đo tốc độ phương tiện giao thông; thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng; hàng tiêu dùng đã qua sử dụng; nhiều loại phương tiện đã qua sử dụng; thiết bị y tế đã qua sử dụng; sản phẩm công nghệ số đã qua sử dụng...
Đối với trường hợp đặc biệt được phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc diện cấm theo quy định của Luật Quản lý ngoại thương, Nghị định quy định hồ sơ đề nghị cấp phép gồm đơn đề nghị, tài liệu thuyết minh kế hoạch sử dụng và quản lý hàng hóa, báo cáo tình hình thực hiện các giấy phép đã được cấp trước đó (nếu có) cùng các giấy tờ khác theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan cấp phép phải thông báo để thương nhân hoàn thiện hồ sơ nếu chưa đầy đủ. Chậm nhất 5 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền phải cấp giấy phép hoặc có văn bản trả lời, nêu rõ lý do nếu từ chối cấp phép.
Nghị định cũng quy định thời hạn lưu giữ, sử dụng tại Việt Nam đối với hàng hóa cấm nhập khẩu được cấp phép không quá 2 năm theo đăng ký của thương nhân với cơ quan cấp phép. Đồng thời, thương nhân được cấp phép có trách nhiệm báo cáo hằng năm về tình hình xuất khẩu, nhập khẩu, sử dụng và xử lý hàng hóa sau khi sử dụng, chậm nhất vào ngày 31/12.