Tạo môi trường kinh doanh tin cậy để giữ chân doanh nghiệp
VOV.VN - Sau hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường và doanh nghiệp gia nhập thị trường chênh nhau không nhiều. Điều này khiến mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 đứng trước áp lực lớn.
Tỷ lệ doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn cao
Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân đặt mục tiêu đến 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế - đây là mục tiêu rất rõ ràng và hoàn toàn có thể đo lường được. Hiện tại nền kinh tế mới có khoảng 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động – điều này có nghĩa là từ nay đến năm 2030 cần bổ sung thêm khoảng 1 triệu doanh nghiệp nữa, tương đương mỗi năm phải tăng thêm khoảng 200.000 doanh nghiệp. Tuy nhiên theo TS Nguyễn Đình Cung, Chuyên gia Kinh tế, diễn biến bức tranh “sức sống” của doanh nghiệp lại đang đi ngược so với kỳ vọng.
“Tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại thị trường so với số doanh nghiệp rút lui đang giảm dần qua các giai đoạn. Nếu như trước đây cứ một doanh nghiệp rời thị trường lại có nhiều doanh nghiệp mới tham gia thay thế thì giai đoạn 2016 - 2020 tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 2:1. Từ năm 2021 đến nay, tỷ lệ gần như xấp xỉ 1:1. Tôi thấy rằng chúng ta chỉ hay nhấn mạnh số lượng doanh nghiệp thành lập mới nhưng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng tăng rất mạnh thì lại ít được quan tâm. Hiện chưa có cơ quan nào thực sự chịu trách nhiệm theo dõi mục tiêu này một cách nghiêm túc trong khi đây là chỉ tiêu hoàn toàn có thể giám sát rõ ràng. Nếu xu hướng doanh nghiệp rời thị trường tiếp tục tăng thì gần như không thể đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030”, ông Cung cảnh báo.
Dẫn chứng số liệu thực tế cho thấy, trong năm 2025 tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động là 297,5 nghìn doanh nghiệp; số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 227,2 nghìn doanh nghiệp (bình quân một tháng có 24,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động; 18,9 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường). Còn trong 9 tháng năm nay, cả nước có hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động; số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường khoảng 172.000 doanh nghiệp (bình quân một tháng có 24,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường; 19,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường).
TS Tạ Thu Phương, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa kỳ vọng về sự phát triển của doanh nghiệp và thực tế diễn biến. Nếu không cải thiện được tỷ lệ “sống sót” của doanh nghiệp thì dù số doanh nghiệp thành lập mới có tăng, mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 vẫn sẽ rất khó đạt.
“Hàng nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động là tín hiệu tích cực, cho thấy tinh thần kinh doanh và niềm tin thị trường vẫn còn. Tuy nhiên, vẫn có hàng nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng là một tín hiệu đáng suy nghĩ. So sánh tương quan cho thấy, số doanh nghiệp rút lui với số doanh nghiệp quay trở lại thị trường không chênh nhau là mấy – như vậy số doanh nghiệp hoạt động thực tế sẽ tăng rất chậm. Điều này cho thấy khu vực doanh nghiệp đang có sự vận động mạnh, nhưng sức chống chịu và khả năng tồn tại của nhiều doanh nghiệp vẫn còn yếu. Thực trạng này rất đáng lo ngại nếu tiếp tục kéo dài, mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động sẽ gặp thách thức lớn. Mục tiêu này không thể đạt được chỉ bằng việc khuyến khích thành lập mới, mà phải đồng thời giảm tỷ lệ doanh nghiệp rút lui, hỗ trợ doanh nghiệp đang hoạt động phục hồi và thúc đẩy hộ kinh doanh có tiềm năng chuyển đổi lên doanh nghiệp”, TS Phương phân tích.
Cải cách môi trường kinh doanh, giữ chân doanh nghiệp
Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân cùng các Nghị quyết được ban hành gần đây về phát triển kinh tế đều đặt mục tiêu đến 2030 có 2 triệu doanh nghiệp, tầm nhìn đến 2045 phấn đấu có 3 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế. Tuy nhiên, liệu mục tiêu này có khả thi không khi những điểm nghẽn của khu vực kinh tế tư nhân phần lớn vẫn chưa được tháo gỡ. Cánh cửa để doanh nghiệp bước vào thị trường ngày càng được mở rộng, nhưng doanh nghiệp có thể tồn tại và lớn lên trong môi trường kinh doanh đó hay không thì lại là điều không hề đơn giản.
Theo TS Nguyễn Đình Cung, sau gần 10 năm chúng ta nói về cải cách môi trường kinh doanh, nhưng đến nay nhiều mục tiêu chủ yếu vẫn tồn tại trên giấy. Điều đáng lo ngại nhất hiện nay là thiếu cơ chế giám sát độc lập và thiếu đánh giá thực chất về hiệu quả triển khai.
“Cải cách môi trường kinh doanh không thể chỉ dừng ở việc ban hành thêm văn bản. Một quy định thực sự tạo ra thay đổi có giá trị hơn nhiều so với hàng chục văn bản thiếu hiệu quả. Kết quả thực hiện phải được đo lường thông qua thực tế chứ không phải đánh giá bằng số lượng văn bản được ban hành. Để doanh nghiệp yên tâm sản xuất, đầu tư, cần tạo môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi, an toàn và tin cậy, thúc đẩy được sự tham gia của tất cả các doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo ra các sản phẩm xã hội – đây chính là nền tảng để phát triển”, ông Cung nói.
Ông Cung cũng cho rằng, việc thực hiện mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp cần giao trách nhiệm cho một bộ phận hoặc cơ quan chịu trách nhiệm chính.
“Người đứng đầu phải có trách nhiệm rõ ràng và thực sự quan tâm đến khu vực kinh tế tư nhân. Đồng thời, cần có một đội ngũ cán bộ độc lập, chuyên trách theo dõi, đánh giá và kiến nghị các giải pháp, đề xuất kịp thời với các cơ quan có thẩm quyền. Trong quá trình thực hiện, phải có đánh giá định kỳ hàng tháng, hàng quý, sáu tháng và hàng năm để thấy rõ lý do số doanh nghiệp gia nhập thị trường hoặc rời bỏ thị trường tăng hay giảm - từ đó đề ra các giải pháp phù hợp”, ông Cung nhấn mạnh.
Không để chính sách trở thành điều mà doanh nghiệp “khó chạm tới”, PGS. TS Lê Đức Hoàng cho rằng, chính sách phải trở thành “bệ đỡ” vững chắc cho doanh nghiệp.
“Trước hết cần khơi thông vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua quỹ bảo lãnh tín dụng và cho vay dựa trên dòng tiền, hóa đơn thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp. Giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục, chuyển mạnh sang hậu kiểm. Kết nối doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI và các dự án đầu tư công, đặc biệt cần hướng tới chất lượng đóng góp của các doanh nghiệp hơn là số lượng. Tuy nhiên, điều tôi lo ngại nhất là khoảng cách giữa chính sách và thực thi - vì vậy, chính sách cần được thiết kế đơn giản, ổn định, nhất quán và đến tận tay doanh nghiệp nhỏ để doanh nghiệp yên tâm lập kế hoạch dài hạn. Chỉ khi làm được điều đó, khu vực tư nhân mới thực sự trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế”, PGS Lê Đức Hoàng nêu quan điểm.