Người Việt “lĩnh ấn phong hầu” xứ Triệu Voi

Chuyện người nước này đeo gươm “lãnh ấn phong hầu” ở đất nước khác tưởng như chỉ có trong thời Chiến quốc.. Nhưng có một người Việt từng giữ chức Phó ban tổ chức Trung ương ở nước Lào

Xe Kong chiều tĩnh lặng. Gương mặt ông già 80 tuổi hằn những nếp nhăn trên khuôn mặt gầy gầy, nhưng nước da vẫn đo rau như phần lớn những người dân tộc thiểu số Tà Liêng nơi đây. Nhưng điều gây ấn tượng đặc biệt với chúng tôi chính là cái giọng đặc chất Quảng Nam, dù ông sống ở Lào đã 60 năm.

Dấn thân đến cùng vì Cách mạng

Đón khách từ Việt Nam sang thăm, ông vui lắm, dẫn tôi lên “thư phòng” ở tầng 2, nơi có bức ảnh Bác Hồ trong chiến dịch biên giới. Căn phòng giản dị và không có nhiều thứ đắt tiền... “Tên khai sinh của tôi là Lê Viết Muồng, quê ở Cẩm Nam (Hội An, Quảng Nam), bên đó hiện giờ tôi còn 2 bà chị nữ - Bua Nhơn bắt đầu câu chuyện – Tôi nhớ rõ ngày 17-8-1948, ngày mà chúng tôi bắt đầu lên đường tình nguyện sang giúp đỡ cách mạng Lào. Trước khi đi, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã dặn dò nhiều điều, trong đó có câu nóimà chúng tôi khắc cốt ghi tâm: “Giúp bạn cũng như giúp mình”. Tiểu đội của tôi đi trước tiền trạm chuẩn bị khu đến và các điểm bảo vệ an toàn cho đại quân đi sau...”.

Nơi tiểu đội trinh sát đến là những bộ tộc ít người của Lào như  Ca Tu, Tà Liêng, A Lắc, Nghé, Pà Cố... Mỗi tộc người ở đây đều có một tù trưởng đứng đầu rất uy tín. Nếu như không cảm hoá được tù trưởng, coi như dân vận thất bại. Tiểu đội chia nhau mỗi người một khu vực, ở vùng nào học tiếng dân tộc vùng đó. Lê Viết Muồng học tiếng Tà Liêng, Tà Riu và Cà Tu. Để hoà nhập với người bản xứ, ông lấy tên là Bua Nhơn, cởi bỏ bộ quần áo quen thuộc, chấp nhận đóng khố, nằm rừng và để tóc dài (nhiều năm sau, mái tóc đã dài gần đến gót chân, nước da chuyển thành màu đồng hun, rồi đỏ sậm đến tận bây giờ). “Sau 6 tháng, nhóm công tác của tôi cũng thuyết phục được tù trưởng khó tính Quân Hiếu - người vốn được quân Pháp tuyên truyền chống cộng trước đó - đồng ý đoàn kết với Việt Nam cùng đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi Đông Dương. “Đồng đội của tôi có anh Thu được phân về khu vực Atapư còn phải cà răng, căng tai theo tập quán của người dân tộc nơi đây. Anh Thu đã trở thành người con của bản, được bà con đùm bọc, kẻ thù không bắt nổi. Nhưng không may, trong một chuyến luồn rừng, anh ấy bị cọp bắt đi...” – Bau Nhơn nhớ lại, thoáng chốc đôi mắt nhoè đi.

“Che Guevara thầm lặng” của Đông Dương

Sau thất bại ở Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp bắt buộc phải ký Hiệp định Genever và rút quân khỏi Đông Dương. Đại quân Liên khu Năm rút về nước, chỉ để lại một số nhóm nhỏ tiếp tục hoạt động bí mật giúp đỡ cách mạng Lào. Bua Nhơn nằm trong số những người ấy. Tương tự một phần đời của người anh hùng Che Guevara ở Mỹ Latinh, ông trở thành một người huấn luyện cho lực lượng vũ trang tại chỗ, rồi trở thành cán bộ tuyên huấn huyện Đăk Chưng. Trong thời gian đó, những người cộng sản Lào vẫn sinh hoạt trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1955, khi tách Đảng, ông chuyển áng sinh hoạt Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và cưới Am Nhơi – cô gái của bộ tộc Tà Liêng làm vợ.

Trong những năm sau đó, Bua Nhơn được tín nhiệm bầu làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Khoen Taven Ooc, rồi trở thành Uỷ viên Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Năm 1984, tỉnh Khoen Taven Ooc tách đôi thành 2 tỉnh Xalavan và Xekong, Bua Nhơn được chỉ định làm Bí thư kiêm Chủ tịch tỉnh Xekong. Đến năm 1989, ông được vời về thủ đô Viêng Chăn làm Phó ban Tổ chức Trung ương Đảng, kiêm Bí thư Đảng uỷ các cơ quan Trung ương của Lào. Có lẽ ông là người ngoại quốc đầu tiên và duy nhất cho đến nay được nước Lào tin tưởng giao cho một trong những vị trí cấp cao trong Đảng...

Ông Bua Nhơn
Tôi hỏi ông về nghỉ từ năm nào, Bua Nhơn kể tiếp: Năm 1990, tôi xin nghỉ không ứng cử tiếp, nhưng Chủ tịch Cayxỏn Phônvihản - Chủ tịch nước Lào lúc đó chưa đồng ý cho tôi về hưu. Hai năm sau, khi bệnh huyết áp của tôi không cho phép tiếp tục làm việc, tôi mới được nghỉ chính thức...”. Dù về hưu nhưng ông vẫn được lãnh đạo và nhân dân Lào trọng vọng. Các vị lãnh đạo cấp cao của đất nước Triệu Voi mỗi lần “vi hành” xuống phía Nam thường về thăm ông và cùng nhau luận bàn quốc sự... Khi ông về hưu, Chính phủ Lào tặng ông 1 ngôi nhà, 1 chiếc xe Toyota bán tải để ông đi lại. Tiền lương mỗi quý của ông khoảng 2,1 triệu kip, theo ông là “đủ cho 2 ông bà già”.

Với những cống hiến cho đất nước Triệu Voi, Bua Nhơn được Nhà nước Lào tặng 8 Huân chương (Huân chương Thắng lợi vẻ vang, Huân chương Tự do, Huân chương Lao động các hạng...). Tôi hỏi Việt Nam đã ghi nhận thế nào cho những đóng góp của ông, ít nhất là đối với những năm 1948 - 1955, khi ông vẫn chính danh “bộ đội cụ Hồ” chống Pháp ở chiến trường C. Bua Nhơn chân thành nói: “Tôi luôn nhớ đến lời dặn của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng buổi xuất quân: “Giúp bạn cũng như giúp mình”. Với người cộng sản, làm cách mạng dù ở quê hương Việt Nam hay ở Lào đều là vì lợi ích nhân dân hai nước anh em, không đòi hỏi gì...”. Tôi quay sang hỏi về gốc tích chiếc huy hiệu Bông sen vàng của MTTQ Việt Nam trên ngực áo của ông, ông nhỏ nhẹ: “Đó là chiếc huy hiệu mà ông Chủ tịch MTTQ tỉnh Quảng Nam gắn tặng tôi trong một lần thăm quê”. Đôi mắt của người tình nguyện quân thuở nào như đang rưng rưng nỗi hoài hương sâu lắng...”./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.