Đề xuất 24/11 là Ngày Văn hóa Việt Nam, người lao động được nghỉ
VOV.VN - Sáng 20/4, tại Kỳ họp thứ 1 Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh đã trình bày Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam với nhiều cơ chế, chính sách được đánh giá mang tính đột phá, tạo hành lang pháp lý thúc đẩy công nghiệp văn hóa.
Trình Quốc hội loạt cơ chế đột phá phát triển văn hóa Việt Nam
Theo dự thảo, lần đầu tiên đề xuất xác lập ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Trong ngày này, các cơ sở văn hóa, thể thao công lập được xem xét miễn hoặc giảm phí tham quan, dịch vụ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; đồng thời khuyến khích tổ chức các hoạt động văn hóa, hướng tới thanh thiếu niên và cộng đồng.
Dự thảo Nghị quyết quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm, đồng thời tăng dần theo yêu cầu phát triển. Cùng với đó là cơ chế khuyến khích huy động nguồn lực xã hội nhằm tạo thêm dư địa đầu tư cho lĩnh vực văn hóa.
Đáng chú ý, dự thảo lần đầu đưa vào mô hình cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa, hình thành hệ sinh thái tập trung các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Các không gian này được định hướng phát triển theo hướng liên kết sáng tạo, nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm văn hóa trên nền tảng công nghệ cao.
Về chính sách ưu đãi, dự thảo đưa ra nhiều cơ chế hỗ trợ thuế đối với các lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, mỹ thuật, trò chơi điện tử. Doanh nghiệp có thể được miễn thuế thu nhập trong 2 năm đầu và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo, đồng thời miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân đối với chuyên gia, nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực văn hóa.
Một điểm mới khác là cơ chế thí điểm đô thị di sản, cho phép địa phương áp dụng chính sách ưu đãi về đất đai, phí, lệ phí nhằm khai thác và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển công nghiệp văn hóa. Các địa phương được giao trách nhiệm bố trí quỹ đất cho thiết chế văn hóa, thể thao; ưu tiên sử dụng trụ sở công dôi dư cho các hoạt động văn hóa, sáng tạo.
Dự thảo cũng dành nhiều nội dung cho công tác bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số, nghệ thuật truyền thống, các giá trị có nguy cơ mai một. Nhà nước ưu tiên nguồn lực hồi hương bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm từ nước ngoài; đầu tư cơ sở vật chất cho đơn vị nghệ thuật truyền thống; đồng thời bảo đảm thời lượng phát sóng trên hệ thống phát thanh, truyền hình.
Về nhân lực, dự thảo cho phép tuyển dụng không qua thi tuyển đối với nghệ sĩ, vận động viên tài năng đạt thành tích khu vực, quốc tế, cùng hệ thống phụ cấp ưu đãi nghề từ 20% đến 60%, chế độ bồi dưỡng luyện tập, biểu diễn theo buổi tính theo mức lương cơ sở.
Trong lĩnh vực quản lý ngân sách, dự thảo đề xuất cơ chế đặt hàng và khoán chi trong hoạt động sáng tạo văn hóa, áp dụng đối với các sản phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao, cho phép thí điểm khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hoặc từng phần, tăng tính tự chủ và gắn với hiệu quả đầu ra.
Đáng chú ý, dự thảo nhấn mạnh chính sách hỗ trợ quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới thông qua Tuần Văn hóa Việt Nam, giao lưu nghệ thuật, trưng bày di sản tại các bảo tàng quốc tế, đồng thời có cơ chế hoàn trả một phần chi phí cho các đoàn làm phim nước ngoài sử dụng bối cảnh tại Việt Nam.
Lần đầu tiên, dự thảo đặt ra yêu cầu xây dựng hạ tầng văn hóa số, cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, phát triển mô hình bảo tàng mở, thư viện số, nhà hát di động; đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ để xử lý tin giả, bảo vệ bản quyền và an ninh văn hóa trên môi trường số.
Dự thảo cũng đề xuất thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật ở Trung ương và địa phương, hoạt động theo mô hình hợp tác công – tư, chấp nhận rủi ro đầu tư, hỗ trợ các dự án sáng tạo có tiềm năng thương mại và lan tỏa xã hội.
Thống nhất 10 nhóm chính sách, nhiều nội dung cần làm rõ
Trình bày báo cáo thẩm tra, ông Nguyễn Đắc Vinh, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội cho biết, Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa và triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Dự thảo Nghị quyết được đánh giá phù hợp với Hiến pháp, bám sát chủ trương của Đảng, đồng thời bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bình đẳng giới, chính sách dân tộc và phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Hồ sơ dự án được chuẩn bị khẩn trương, đầy đủ trình tự, thủ tục; Ủy ban thống nhất với đề nghị của Chính phủ trình Quốc hội theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Ủy ban cơ bản tán thành tên gọi, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng cũng như 10 nhóm chính sách lớn trong dự thảo Nghị quyết. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục làm rõ một số nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý và tính khả thi khi thực hiện.
Đối với quy định xác lập ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương, Ủy ban thống nhất chủ trương, đồng thời đề nghị tiếp tục nghiên cứu gắn kết, phát huy hiệu quả các ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn của dân tộc để lan tỏa sâu rộng giá trị văn hóa trong đời sống xã hội.
Về cơ chế thu hút nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa, Ủy ban cơ bản tán thành chủ trương khơi thông nguồn lực, song đề nghị làm rõ nội hàm và nguyên tắc áp dụng các chính sách ưu đãi đặc thù, bảo đảm cơ sở pháp lý đầy đủ, tránh chồng chéo trong thực tiễn.
Liên quan mô hình cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa, Ủy ban thống nhất định hướng phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, song đề nghị làm rõ hơn các tiêu chí, nguyên tắc vận hành và cơ chế phối hợp để bảo đảm hiệu quả, tránh dàn trải.
Với chính sách ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, đặc biệt mô hình đô thị di sản, Ủy ban đề nghị làm rõ khái niệm, tiêu chí lựa chọn địa phương thí điểm, đồng thời quy định chặt chẽ nguyên tắc áp dụng ưu đãi về đất đai, phí, lệ phí. Việc miễn, giảm tiền thuê đất đối với một số đơn vị sự nghiệp công lập cũng cần rà soát để bảo đảm phù hợp pháp luật về đất đai và quản lý tài sản công.
Đối với chính sách đãi ngộ, phát triển nhân lực văn hóa, thể thao, Ủy ban cơ bản tán thành nhưng đề nghị rà soát kỹ đối tượng thụ hưởng chính sách phụ cấp ưu đãi nghề, chế độ bồi dưỡng luyện tập, biểu diễn; đồng thời làm rõ một số khái niệm chuyên ngành để thống nhất trong áp dụng.
Về cơ chế khoán chi trong hoạt động sáng tạo văn hóa, Ủy ban tán thành chủ trương thí điểm, song đề nghị quy định cụ thể danh mục nhiệm vụ, phương thức xác định định mức khoán, tiêu chí đánh giá kết quả và cơ chế thanh toán theo sản phẩm đầu ra, bảo đảm hài hòa giữa quản lý ngân sách và đặc thù sáng tạo.
Đối với chính sách hỗ trợ sản xuất phim nước ngoài tại Việt Nam, Ủy ban cho rằng phạm vi chi phí hoàn trả còn rộng, đề nghị rà soát, thu hẹp và quy định rõ điều kiện, mức hỗ trợ, cơ chế kiểm tra, giám sát để bảo đảm minh bạch, khả thi.
Về Quỹ văn hóa, nghệ thuật, Ủy ban đánh giá đây là chủ trương có cơ sở chính trị, song là mô hình mới, có phạm vi tác động lớn, liên quan đến quản lý và sử dụng vốn nhà nước cũng như cơ chế đầu tư mạo hiểm. Do đó, đề nghị tiếp tục nghiên cứu kỹ mô hình tổ chức, cơ chế quản trị, tỷ lệ vốn góp giữa Nhà nước và tư nhân, nguyên tắc phân chia rủi ro và trách nhiệm các chủ thể liên quan.
Ủy ban Văn hóa và Xã hội khẳng định, dự thảo Nghị quyết đã thể hiện nhiều chính sách mới, mang tính đột phá trong phát triển văn hóa Việt Nam, song cần tiếp tục hoàn thiện để bảo đảm tính khả thi, đồng bộ và hiệu quả khi đi vào thực tiễn.
Nghị quyết dự kiến có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.