Không chỉ gìn giữ, văn hóa phải kiến tạo sức mạnh Việt Nam
VOV.VN - Văn hóa không chỉ là ký ức của một dân tộc, mà còn là nguồn lực để kiến tạo tương lai. Khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là gìn giữ di sản, mà còn phải đánh thức những giá trị văn hóa để tạo nên sức mạnh mềm, thương hiệu quốc gia và động lực phát triển bền vững.
Có một thực tế rất dễ nhận thấy: Trong nhiều năm, khi nhắc đến văn hóa, chúng ta thường nghĩ nhiều đến hai chữ "bảo tồn". Đó là bảo tồn di sản, gìn giữ lễ hội, lưu giữ ký ức lịch sử, gìn giữ bản sắc dân tộc. Điều đó chưa bao giờ sai, một dân tộc muốn phát triển bền vững luôn phải biết trân trọng cội nguồn, bởi mất đi ký ức văn hóa cũng đồng nghĩa đánh mất một phần bản sắc của mình.
Nhưng nếu văn hóa chỉ dừng lại ở việc gìn giữ, liệu đã đủ cho một đất nước đang bước vào kỷ nguyên cạnh tranh bằng tri thức, đổi mới sáng tạo và sức mạnh mềm?
Đó có lẽ cũng là lý do trong phát biểu tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu: "Chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo", đồng thời "chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới".
Có thể thấy đây không chỉ là một định hướng dành cho ngành văn hóa, đó là một sự chuyển dịch trong tư duy phát triển quốc gia. Lần đầu tiên, văn hóa được đặt vào vị trí không chỉ gìn giữ quá khứ mà còn kiến tạo tương lai; không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh của đất nước.
Bởi trong thế giới hôm nay, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô nền kinh tế hay trình độ khoa học - công nghệ. Những bộ phim làm rung động hàng triệu khán giả, những bản nhạc vượt qua rào cản ngôn ngữ, những thương hiệu thời trang, những trò chơi điện tử hay những nền tảng nội dung số cũng đang góp phần định hình vị thế của một dân tộc trên bản đồ thế giới.
Việt Nam chưa bao giờ thiếu vốn văn hóa. Hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh là một kho tàng đồ sộ mà không nhiều quốc gia sở hữu. Đó là nền tảng để Việt Nam xây dựng bản sắc, nuôi dưỡng sức mạnh tinh thần và khẳng định vị thế của mình.
Nhưng tài nguyên, nếu không được chuyển hóa, vẫn chỉ là tiềm năng; Một truyền thuyết nếu chỉ nằm trong sách sẽ khó đồng hành cùng thế hệ trẻ; Một di tích nếu chỉ dừng ở việc đón khách tham quan sẽ khó tạo nên giá trị mới hay một làn điệu dân ca nếu chỉ vang lên trong các dịp lễ hội sẽ khó bước ra thế giới.
Có lẽ vì thế, Tổng Bí thư đã chỉ rõ một trong những "khoảng trống" lớn hiện nay là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia. Điều cần hướng tới là số hóa để lưu trữ, là xây dựng dữ liệu có khả năng kết nối, chia sẻ, tái sử dụng và phục vụ giáo dục, nghiên cứu, công nghiệp văn hóa, trí tuệ nhân tạo cũng như đổi mới sáng tạo.
Đó là một cách nhìn rất khác, di sản không còn chỉ thuộc về quá khứ mà di sản phải tiếp tục sống trong hiện tại. Đó mới là bảo tồn bằng sáng tạo.
Từ biểu tượng văn hóa đến thương hiệu quốc gia
Một quốc gia được thế giới nhớ đến không chỉ bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế, điều khiến người ta ghi nhớ lâu hơn thường là những biểu tượng văn hóa. Hàn Quốc có K-pop và điện ảnh; Nhật Bản có anime, manga và văn hóa truyền thống được hiện đại hóa; Pháp có thời trang; Italy có thiết kế… Những biểu tượng ấy không tự nhiên xuất hiện, chúng là kết quả của một chiến lược dài hơi nhằm biến vốn văn hóa thành thương hiệu quốc gia, sức mạnh mềm và lợi thế cạnh tranh.
Trong phát biểu của mình, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng thẳng thắn chỉ ra Việt Nam "Chưa tạo ra được nhiều tác phẩm văn học, điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật, thiết kế, trò chơi, nội dung số có khả năng trở thành biểu tượng văn hóa Việt Nam trong khu vực và trên thế giới".
Nhận định ấy gợi ra một câu hỏi rất đáng suy nghĩ. Bao giờ thế giới sẽ nhớ đến Việt Nam bằng một biểu tượng văn hóa do chính chúng ta tạo nên? Một bộ phim khiến khán giả quốc tế nhắc đến Việt Nam; một nhân vật hoạt hình mang bản sắc Việt hay một trò chơi điện tử kể câu chuyện lịch sử Việt Nam.
Đó không chỉ là thành công của một ngành mà đó là thương hiệu quốc gia, là sức mạnh mềm và cũng là cách để hình ảnh Việt Nam hiện diện tự nhiên trong tâm trí bạn bè quốc tế.
Nếu trước đây, văn hóa thường được nhìn như lĩnh vực thụ hưởng đầu tư thì hôm nay, văn hóa còn được kỳ vọng tạo ra tăng trưởng. Trong phát biểu của mình, Tổng Bí thư yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia; đồng thời yêu cầu xác định rõ lĩnh vực nào có khả năng tạo tăng trưởng, doanh nghiệp nào đủ năng lực, dự án nào có thể tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và thị trường.
Điều đó cho thấy văn hóa không còn chỉ được nhìn dưới góc độ phục vụ đời sống tinh thần. Văn hóa cũng là kinh tế, là bản quyền. là đổi mới sáng tạo và là năng lực cạnh tranh quốc gia. Điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, xuất bản, trò chơi điện tử, hoạt hình hay du lịch văn hóa đều có thể trở thành những ngành kinh tế quan trọng nếu khai thác đúng lợi thế.
Thực tế thế giới đã chứng minh, xuất khẩu văn hóa không chỉ mang lại nguồn thu lớn mà còn tạo sức lan tỏa vượt xa giá trị kinh tế. Một bộ phim thành công có thể khiến hàng triệu người muốn đến thăm đất nước nơi câu chuyện diễn ra; Một bản nhạc có thể đưa ngôn ngữ và văn hóa của một dân tộc gần với công chúng toàn cầu hay một sản phẩm sáng tạo có thể mở ra cả một thị trường mới.
Vì vậy, xuất khẩu văn hóa không đơn thuần là đưa một tác phẩm ra nước ngoài, đó là xuất khẩu hình ảnh quốc gia, xuất khẩu bản sắc, xuất khẩu sức sáng tạo của người Việt Nam.
Để văn hóa trở thành sức mạnh mềm của quốc gia
Một điểm nhấn khác là yêu cầu xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, coi năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia.
Đây là một khái niệm mới. Ngày nay, thuật toán, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đang tham gia ngày càng sâu vào việc định hình nhận thức, thị hiếu và lối sống của xã hội. Nếu văn hóa Việt Nam không hiện diện đủ mạnh trên không gian số, không được kể bằng ngôn ngữ của thời đại và không có những sản phẩm đủ sức hấp dẫn, khoảng trống ấy sẽ nhanh chóng được lấp đầy bởi những hệ giá trị khác. Vì vậy, xây dựng chủ quyền văn hóa số không có nghĩa là khép kín hay từ chối giao lưu. Ngược lại, đó là khả năng chủ động kể câu chuyện của chính mình; tiếp thu tinh hoa nhân loại nhưng vẫn làm giàu bản sắc dân tộc bằng những sản phẩm sáng tạo mang dấu ấn Việt Nam.
Có thể thấy, điều quan trọng nhất trong những định hướng lần này không nằm ở một vài nhiệm vụ cụ thể, điều quan trọng hơn là sự thay đổi trong cách nhìn về văn hóa.
Từ một lĩnh vực chủ yếu được gìn giữ, văn hóa được đặt vào vị trí kiến tạo tri thức, kiến tạo tài sản trí tuệ, kiến tạo thương hiệu quốc gia, kiến tạo sức mạnh mềm và kiến tạo động lực tăng trưởng.
Đó không chỉ là khát vọng của ngành văn hóa mà đó là khát vọng phát triển của cả một quốc gia. Bởi trong kỷ nguyên cạnh tranh toàn cầu, một đất nước mạnh không chỉ là đất nước có nền kinh tế lớn hay công nghệ hiện đại, đó còn phải là một đất nước có bản sắc đủ sâu để gìn giữ, có sức sáng tạo đủ mạnh để tạo ra những biểu tượng mới và có năng lực kể câu chuyện Việt Nam bằng chính ngôn ngữ của thời đại.
Khi đó, văn hóa sẽ không chỉ lưu giữ ký ức của dân tộc, văn hóa sẽ kiến tạo tương lai của dân tộc.