Mâm cỗ trông trăng Tết Trung thu xưa và nay
VOV.VN - Tết Trung thu của người Hà Nội xưa từng được gửi gắm trong những mâm cỗ cầu kỳ, những món đồ chơi tự làm và những đêm trăng đầy tiếng trẻ. Còn hôm nay, giữa một Hà Nội hiện đại, những phong tục ấy đã thay đổi ra sao?
Qua ký ức và khảo cứu của nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến, Tết Trung thu hiện lên như một lát cắt văn hóa đặc biệt của Hà Nội – nơi mỗi mâm cỗ không chỉ để phá cỗ, mà còn chứa đựng mong ước về học hành, công danh và những niềm vui tuổi thơ.
Còn hôm nay, giữa một Hà Nội hiện đại, những phong tục ấy đã thay đổi ra sao?
Trên thế giới có 5 quốc gia ăn tết Trung thu nhưng mang lại ý nghĩa khác nhau. Tết Trung thu với người Trung Quốc là ngày gia đình đoàn viên, ai đi làm ăn xa cũng cố gắng trở về nhà đoàn tụ. Với Hàn Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản mang ý nghĩa mừng mùa màng kết thúc.
Còn tại Việt Nam, Trung thu là tết cho trẻ em vì thế nhà nhà tự làm hay mua đồ chơi cho con cháu và bầy mâm cỗ gọi là cỗ trồng trăng.
Đầu thế kỷ 20, đến tết Trung Thu, các gia đình ở Hà Nội vẫn duy trì truyền thống bầy mâm cỗ cho con trẻ. Tùy theo gia cảnh nhà khá giả bầy ba mâm, song nhà nghèo cũng phải có một mâm. Chiều ngày Rằm, tất cả thành viên trong gia đình chăm chút bầy biện mâm cỗ.
Ở mâm thứ nhất có ba ông trạng xếp hàng ngang, ngồi giữa là ông tiến sỹ mặc áo, đội mũ, cân đai, cờ biển, hai bên là ông thám hoa và bảng nhãn.
Trước mặt các vị tam khôi có chiếc án thư thu nhỏ, bên trên đặt một bộ ấm chén cùng nậm rượu, bên cạnh là giá gỗ cắm cờ biển, hèo roi thuộc nghi vệ một đám rước quan nghè vinh qui bái tổ. Bên phải các vị tam khôi bầy một con ngựa giấy thắng đủ yên cương, có chiếc võng ba đòn với bốn phu khiêng.
Hà Nội là đất học nên người ta đặt các vị tam khôi ở hàng đầu với mong muốn con cháu học hành đỗ đạt, làm quan sẽ đổi đời và mang lại danh tiếng cho gia đình, dòng họ. Với gia đình sùng bái thần phật, người ta còn sắm bộ đồ đình chùa bằng nan phủ giấy hay bằng gỗ tiện.
Mâm thứ hai cũng bằng gỗ hình tròn bầy ba đĩa sứ men nhạt lót lá kim giả làm rong rêu. Trên mâm đặt những con giống thủy sinh gồm: Tôm, cua, lươn, chạch, ếch, nhái, … làm bằng bột nếp ngào mật mua ở phố Hàng Đường. Những con giống này được tô mầu trông sống động như thật, trẻ con chơi xong trẻ có thể ăn.
Mâm thứ ba bầy hoa lá cắt bằng lụa, giấy và các con giống tỉa bằng các loại quả, con chó là các tép bưởi, con thỏ bằng quả hồng ngâm, con chim bằng cùi bưởi, quả dưa hấu khoét ruột cho mẩu nến vào trong, tất cả đều do đàn bà con gái trong nhà tự tay làm. Xen vào có đĩa bánh khảo, bánh dẻo, bánh nướng có chữ “Trung Thu nguyệt bính”. Cả ba mâm bầy ở sập hay phản gỗ phía dưới ban thờ tổ.
Chập tối ngày rằm, người lớn bê mâm thứ hai và thứ ba đặt trước cửa nhà, đám trẻ ríu rít ngồi xung quanh, khi trăng nhô khỏi mái phố, người lớn cho phép chúng phá cỗ. Lũ trẻ ăn những thứ mà chúng thích rồi cho con giống vào túi cầm đồ chơi, đeo mặt nạ ra phố nhập vào đám trẻ hàng phố rước đèn cua, tôm cá và ông sao hay bám theo đám rước sư tử.
Vừa ăn chúng vừa chơi cho đến khi trăng lên cao cho đến khi người lớn gọi về nhà. Theo thời gian, xã hội thay đổi, nửa cuối của thế kỷ 20 các gia đình ở Hà Nội chỉ bầy mâm cỗ có hoa quả, bánh dẻo, bánh nướng sau khi phá cỗ trẻ em các phố tự hình thành nhóm di chuyển từ phố này sang phố khác rồi tự giải tán.
Ngày hôm nay, tết Trung thu không còn như xưa. Phố Hàng Mã vẫn nhộn nhịp song lèo tèo đồ chơi truyền thống. Các gia đình vẫn lo tết cho con trẻ nhưng không còn mâm cỗ trông trăng. Trẻ con thì vẫn háo hức nhưng chúng bị người lớn bắt phải ngủ sớm để hôm sau còn đến trường.