Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam, cần những "kỳ lân" dẫn dắt
VOV.VN - Từ bài học của Hàn Quốc, câu chuyện hình thành những "kỳ lân công nghiệp văn hóa" - doanh nghiệp có quy mô lớn, đủ năng lực sáng tạo, sở hữu IP và cạnh tranh quốc tế - được đưa ra tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026 của Bộ VHTTDL như một gợi mở cho sự phát triển của ngành tại Việt Nam.
Tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa tiếp tục được đặt ra trong bối cảnh lĩnh vực này được kỳ vọng trở thành một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Một trong những nội dung thu hút sự chú ý là quan điểm về vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong việc hình thành các thương hiệu có sức cạnh tranh quốc tế.
Trình bày tham luận tại hội nghị, ông Đinh Bá Thành, Chủ tịch sáng lập DatVietVAC, cho rằng để công nghiệp văn hóa Việt Nam có thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, cần hình thành những doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt ngành. Ông nhấn mạnh: "Nếu không có kỳ lân công nghiệp văn hóa, sẽ không có công nghiệp văn hóa cạnh tranh toàn cầu".
Theo ông, chính sách có thể mở đường cho một ngành kinh tế, nhưng để ngành đó phát triển bền vững và vươn ra thế giới, cần có những doanh nghiệp tiên phong đủ khả năng kiến tạo hệ sinh thái và chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành giá trị kinh tế.
Một trong những vấn đề được nêu tại hội nghị là giá trị cốt lõi của công nghiệp văn hóa không chỉ nằm ở việc sản xuất nội dung, mà còn ở khả năng sở hữu tài sản trí tuệ (IP). Theo ông Thành, nếu chỉ dừng ở việc sản xuất chương trình hoặc khai thác doanh thu một lần, giá trị tạo ra sẽ còn hạn chế. Trong khi đó, việc sở hữu IP giúp doanh nghiệp có thể phát triển cộng đồng người hâm mộ, mở rộng khai thác sang nhiều lĩnh vực và nhiều thị trường khác nhau.
Quan điểm này cũng tương đồng với nhận định của PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Theo ông, giá trị lớn nhất của công nghiệp văn hóa nằm ở việc ai sở hữu ý tưởng gốc, ai nắm quyền khai thác và ai có khả năng phát triển một tài sản trí tuệ thành cả một hệ sinh thái.
Từ đó, ông Thành cho rằng công nghiệp văn hóa muốn trở thành một ngành kinh tế cần dựa trên ba trụ cột gồm sáng tạo nguyên bản (Innovation), sở hữu tài sản trí tuệ (IP) và ứng dụng công nghệ để mở rộng quy mô phân phối cũng như thương mại hóa trên phạm vi toàn cầu.
Đưa ra bài học từ Hàn Quốc, ông Thành nhận định thành công của K-Culture không chỉ đến từ các nghệ sĩ, điện ảnh hay chương trình truyền hình nổi tiếng, mà còn nhờ những doanh nghiệp có khả năng sáng tạo IP, quản trị nghệ sĩ, xây dựng cộng đồng người hâm mộ và mở rộng chuỗi giá trị sang nhiều lĩnh vực như âm nhạc, điện ảnh, thời trang, du lịch hay tiêu dùng.
Theo đó, những doanh nghiệp này tập trung phát triển tài sản trí tuệ và hệ sinh thái nội dung, góp phần hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn. Chính những doanh nghiệp như vậy đã góp phần hình thành hơn 10 "Kỳ lân Công nghiệp văn hóa", trở thành lực đẩy quan trọng đưa K-Culture thành nền tảng cho sức mạnh mềm, tạo nên sự trọng vọng của thế giới đối với Hàn Quốc
Đối với Việt Nam, thị trường có nhiều điều kiện thuận lợi như quy mô dân số lớn, tỷ lệ sử dụng internet cao và tiềm năng phát triển nội dung số. Tuy nhiên, những lợi thế này sẽ khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh nếu thiếu các doanh nghiệp đủ khả năng tổ chức toàn bộ chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa.
Từ thực tế đó, hội nghị ghi nhận đề xuất xây dựng cơ chế phát triển nhằm hình thành các doanh nghiệp dẫn dắt ngành, tương tự chính sách dành cho những lĩnh vực kinh tế ưu tiên. Đồng thời, đề xuất xây dựng cơ chế thẩm định 360 độ để tuyển chọn các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa có năng lực nổi bật và tiệm cận mức vốn hóa 1 tỷ USD trở thành Thương hiệu Quốc gia. Bộ tiêu chí được đề xuất gồm ba nhóm năng lực cốt lõi: sáng tạo và sở hữu IP nguyên bản; ứng dụng công nghệ và phát triển tài sản số; thương mại hóa nội dung và mở rộng hợp tác quốc tế.
Bên cạnh đó, ông Thành cũng đề cập vai trò của doanh nghiệp trong việc kết nối tài nguyên văn hóa với thị trường, chuyển hóa bản sắc địa phương thành sản phẩm có khả năng lan tỏa và tạo giá trị cho nhiều ngành kinh tế khác. Theo ông Thành, tại nhiều địa phương, việc sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú sẽ cần đi cùng những mô hình hợp tác hiệu quả giữa doanh nghiệp và địa phương để phát triển các sản phẩm văn hóa, du lịch và nội dung số.
Ông Thành dẫn ví dụ từ Gia Lai, nơi Năm Du lịch Quốc gia 2026 được triển khai với nhiều hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch. Bên cạnh lễ khai mạc, chương trình thực tế "Say Hi Rực Rỡ" được thực hiện tại địa phương, góp phần giới thiệu cảnh quan, văn hóa và con người Gia Lai đến đông đảo khán giả trên các nền tảng số. Những mô hình kết hợp giữa doanh nghiệp và địa phương có thể góp phần chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm du lịch và kinh tế.
Những đề xuất được đưa ra tại hội nghị cho thấy một cách tiếp cận đặt trọng tâm vào việc xây dựng các doanh nghiệp có năng lực sáng tạo, sở hữu tài sản trí tuệ và mở rộng thị trường quốc tế, qua đó góp phần thúc đẩy công nghiệp văn hóa trở thành một lĩnh vực có sức cạnh tranh trong giai đoạn tới.