“Tiếp sức” cho công nghiệp văn hóa: Phát huy hiệu quả Quỹ Văn hóa, nghệ thuật
VOV.VN - Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026 mang lại nhiều kỳ vọng cho ngành văn hóa bởi có nhiều chính sách đột phá. Trong đó, điều quan trọng là cần quy định cụ thể, nâng cao hiệu quả cho các Quỹ Văn hóa, nghệ thuật khi đi vào vận hành.
Các ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị yêu cầu tăng đầu tư công cho văn hóa gắn với thu hút đầu tư xã hội, đặt ra các nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa. Chủ trương này nhanh chóng được luật hóa với Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội, các văn bản hướng dẫn và sắp tới là Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.
Nhằm hiện thực hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển công nghiệp văn hóa, trong các văn bản quy phạm pháp luật tới đây, các quy định về vốn hay kênh dẫn vốn cần được quy định rõ, để nguồn lực của Nhà nước có cơ chế phân bổ hiệu quả, sao cho bám sát với đặc thù sản phẩm văn hóa và cơ chế thị trường.
Kinh nghiệm quốc tế về công nghiệp văn hóa: Kênh dẫn vốn mang tính quyết định
Trao đổi với VOV.VN, TS. Nguyễn Như Trang (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) cho biết theo kinh nghiệm quốc tế, nguồn ngân sách nhà nước đầu tư và tài trợ cho văn hóa thường qua 3 công cụ dẫn vốn, trong đó công cụ thứ hai và thứ ba gần như chưa được triển khai hiệu quả ở Việt Nam.
Công cụ thứ nhất là phân bổ ngân sách nhà nước trực tiếp cho các cơ quan hành chính, đơn vị, tổ chức văn hóa, nghệ thuật công lập, như bảo tàng, nhà hát, thư viện cấp quốc gia, cấp địa phương. Đây cơ bản là phương thức quản lý ngân sách hiện hành của Việt Nam, cấp dự toán hàng năm cho các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập để duy trì hoạt động. Cách dẫn vốn này phù hợp và cần thiết đối với những thiết chế văn hóa thuộc trách nhiệm trực tiếp của Nhà nước, hoặc những dịch vụ công không đặt mục tiêu tạo nguồn thu và khó thu hút đầu tư tư nhân.
Công cụ dẫn vốn thứ hai là cơ chế tài trợ không hoàn lại vận hành độc lập, mà giới nghiên cứu quen gọi là mô hình “tổ chức cánh tay nối dài” (arm’s length body). Ví dụ với Hội đồng Nghệ thuật Anh, trong đó Chính phủ Anh chỉ cấp tiền ngân sách nhà nước, còn việc lựa chọn dự án hay nghệ sĩ được hỗ trợ sẽ được quyết định bởi Hội đồng, thay vì qua một bộ máy hành chính. Cơ chế này còn ràng buộc bên nhận tài trợ phải cam kết bỏ thêm vốn đối ứng, đồng thời, khuyến khích công chúng, doanh nghiệp cùng tham gia tài trợ thông qua các ưu đãi thuế. Ví dụ, Chương trình Creative Industries Clusters của Anh (Hỗ trợ các cụm công nghiệp sáng tạo) chỉ bỏ ra 56 triệu bảng, nhưng đã thu hút được tổng cộng 270 triệu bảng từ các nguồn, tương đương gần 5 lần “vốn mồi” ban đầu. Trong gần một thế kỷ qua, mô hình “tổ chức cánh tay nối dài” đã phát huy hiệu quả ở nhiều quốc gia, như Trung Quốc cũng đã thành lập Quỹ Nghệ thuật Quốc gia theo mô hình này từ năm 2013.
Công cụ thứ ba là quỹ đầu tư mạo hiểm, thay vì cấp tiền không hoàn lại, nhà nước thông qua quỹ góp vốn vào các doanh nghiệp văn hóa, sáng tạo ở giai đoạn non trẻ nhất, trực tiếp cùng chia sẻ rủi ro và kỳ vọng lợi nhuận. Nhà nước chấp nhận việc khoản đầu tư mạo hiểm có thể sẽ thất bại ở dự án này, đổi lại dự án khác thành công đủ sức bù đắp cho cả danh mục đầu tư của quỹ.
Ví dụ tại Hàn Quốc từ năm 2005 quỹ mẹ được thành lập làm vốn gốc, từ đó góp vào hàng loạt quỹ con do các công ty đầu tư mạo hiểm tư nhân điều hành. Chính các quỹ con này mới là bên lựa chọn và quyết định danh mục đầu tư, Nhà nước chỉ đặt ra luật chơi và mục tiêu. Số liệu giai đoạn 2006 - 2021 cho thấy vốn nhà nước góp vào quỹ văn hóa (quỹ mẹ) do Tập đoàn đầu tư mạo hiểm Hàn Quốc (KVIC) quản lý là khoảng 1.247,5 tỷ won, đã kéo theo tổng các quỹ con lên tới 2.621 tỷ won, tức 1 đồng vốn nhà nước kéo theo 1,1 đồng vốn tư nhân. Nhờ cơ chế này, dòng vốn đổ vào công nghiệp văn hóa Hàn Quốc tăng vọt, tạo cơ chế phát triển cho toàn ngành và cả lĩnh vực liên quan.
Tóm lại, thiết kế đúng mô hình đầu tư và tài trợ cho văn hóa chỉ là điều kiện cần. Để một kênh dẫn vốn thực sự phát huy tác dụng, còn phải bảo đảm điều kiện đủ là hành lang pháp lý khả thi và nguồn vốn được cấp đều đặn. Đây là yếu tố tiên quyết để tạo được niềm tin cho cá nhân, doanh nghiệp dám bỏ vốn đối ứng đầu tư và tài trợ vào công nghiệp văn hóa.
Vận hành hiệu quả Quỹ Văn hóa, nghệ thuật: Cần phân định rõ tài trợ và đầu tư
Thời gian qua, công nghiệp văn hóa đã đón nhận những tín hiệu lạc quan về tư duy quản lý tài chính công, chuyển dần từ bao cấp sang hỗ trợ vốn và chấp nhận rủi ro. Đặc biệt, Quốc hội đã cho phép thí điểm thành lập Quỹ Văn hóa, nghệ thuật ở trung ương và một số địa phương hoạt động theo mô hình hợp tác công tư, là quỹ đầu tư mạo hiểm, hoạt động theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận khả năng rủi ro, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí vốn.
Dù vậy, theo TS. Nguyễn Như Trang, quy định về Quỹ Văn hóa, nghệ thuật này cũng cần được làm rõ ngay từ khâu thí điểm. Quỹ Văn hóa, nghệ thuật được ngân sách nhà nước cấp vốn điều lệ và giao cùng lúc 3 chức năng là tài trợ, hỗ trợ và đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; chương trình, dự án văn hóa, nghệ thuật có tính sáng tạo đột phá, có tiềm năng thị trường và khả năng thương mại, khả năng lan tỏa, tác động xã hội mà không được ngân sách nhà nước cấp kinh phí.
Trong khi đó, tài trợ và đầu tư vốn khác nhau về bản chất. Hình thức đầu tư phù hợp với một quỹ đầu tư mạo hiểm có vốn điều lệ. Còn hình thức tài trợ lại yêu cầu phải có nguồn ngân sách nhà nước cấp hàng năm (Quỹ văn hóa, nghệ thuật không có), dẫn đến dấu hỏi cho tính khả thi về chức năng này của quỹ.
Nhìn từ những câu chuyện trên, điều nên hướng tới của Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tới đây là xem xét, bổ sung công cụ dẫn vốn mới và phân định rành mạch các công cụ này, bám sát mục tiêu song hành mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra, đó là vừa bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, vừa phát triển công nghiệp văn hóa thành một ngành kinh tế quan trọng.
Vế thứ nhất cần một cơ chế tài trợ không hoàn lại cho cá nhân, doanh nghiệp trong công nghiệp văn hóa được bố trí ngân sách đều đặn hằng năm để hỗ trợ sáng tạo, nghệ thuật truyền thống, các lĩnh vực nhiều rủi ro, có tính thương mại trực tiếp thấp, nhưng có giá trị lan tỏa kinh tế gián tiếp cao. Cơ chế này nếu muốn lồng ghép thực chất ngay trong Quỹ Văn hóa, nghệ thuật, thì cần có quy định cho phép cấp ngân sách hàng năm cho quỹ để thực hiện chức năng tài trợ.
Vế thứ hai đã có hình hài ban đầu ở Quỹ Văn hóa, nghệ thuật, nay cần giữ đúng bản chất đầu tư, tập trung vào các dự án có tiềm năng thị trường và khả năng thương mại. Nếu được phân vai đúng ngay từ đầu, nguồn vốn nhà nước mới phát huy trọn vẹn vai trò.
Tóm lại, đổi mới cơ chế tài chính cho văn hóa quy về một nguyên tắc, đó là dùng đồng vốn công đúng vai và đúng cách. Đúng vai là phân định rạch ròi giữa tài trợ và đầu tư, để mỗi công cụ phục vụ đúng mục tiêu, một bên gìn giữ, phát huy giá trị, bản sắc, một bên tìm kiếm tăng trưởng. Đúng cách là đặt ngân sách vào vị trí “vốn mồi”, từ đó thu hút và dẫn dắt nguồn lực xã hội, thay vì một khoản chi khép kín trong nội bộ nhà nước. Chuyển từ tư duy cấp phát sang tư duy dẫn vốn chính là chìa khóa để văn hóa Việt Nam vừa giữ được hồn cốt của mình, vừa trở thành một động lực tăng trưởng thực thụ của nền kinh tế.