Tháo gỡ “4 khoảng trống”, tạo động lực cho công nghiệp văn hóa Việt Nam
VOV.VN - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra “4 khoảng trống” cho thấy những điểm nghẽn cần được tháo gỡ, và “3 chuyển dịch” xác định hướng đi chiến lược cho công nghiệp văn hóa của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới. GS.TS Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa Thăng Long chia sẻ về nội dung này.
Xây dựng chiến lược chủ động làm chủ không gian số và năng lực sáng tạo
PV: Thưa giáo sư, trong bối cảnh ngành công nghiệp văn hóa của chúng ta chuyển dịch văn hóa từ “không gian truyền thống” sang “không gian số”, Việt Nam cần có chiến lược và phản ứng nào để vừa tạo ra các nền tảng nội dung số đáp ứng xu thế và nhu cầu phát triển, vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc?
GS.TS Từ Thị Loan: Theo tôi, trước sự phát triển rất nhanh của các nền tảng xuyên biên giới, Việt Nam không nên chỉ phản ứng theo hướng “quản lý” hay “hạn chế” những tác động từ bên ngoài, mà cần xây dựng một chiến lược chủ động hơn: vừa làm chủ không gian số, vừa làm chủ năng lực sáng tạo và năng lực định hình các giá trị văn hóa trong không gian đó.
Trước hết, cần nhìn nhận không gian số là một không gian văn hóa mới, nơi các giá trị được sản xuất, lan truyền, tương tác và cạnh tranh. Vì vậy, Việt Nam cần phát triển các nền tảng số trong nước có năng lực công nghệ, khả năng cạnh tranh và trải nghiệm người dùng đủ hấp dẫn. Tuy nhiên, nền tảng chỉ là điều kiện cần; điều kiện quyết định là phải có nội dung chất lượng cao.
Thứ hai, cần chuyển từ tư duy “đưa văn hóa lên mạng” sang “sáng tạo văn hóa cho môi trường số”. Những giá trị lịch sử, di sản, nghệ thuật và truyền thống cần được kể lại bằng những hình thức phù hợp với ngôn ngữ của thời đại như: phim ảnh, âm nhạc, trò chơi, hoạt hình, thời trang, thiết kế, nội dung tương tác, thực tế ảo và trí tuệ nhân tạo. Bản sắc không thể chỉ được bảo tồn bằng cách lặp lại nguyên dạng, mà phải được chuyển hóa thành những sản phẩm mới, hấp dẫn và có khả năng cạnh tranh.
Thứ ba, cần xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo số, kết nối các nhà sáng tạo, nghệ sĩ, doanh nghiệp công nghệ, cơ quan truyền thông, các thiết chế văn hóa, trường đại học và cộng đồng. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ và tạo điều kiện để các giá trị văn hóa được khai thác bền vững.
Cuối cùng, cần nâng cao năng lực số và năng lực văn hóa của công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Tựu trung, giữ gìn bản sắc trong kỷ nguyên số không có nghĩa là dựng lên những “bức tường văn hóa”, mà là tạo ra những giá trị Việt Nam đủ hấp dẫn để hiện diện, lan tỏa và cạnh tranh trong không gian số toàn cầu. Nói cách khác, chúng ta không chỉ cần bảo vệ văn hóa Việt Nam trước sự cạnh tranh của các nền tảng xuyên biên giới, mà phải đưa văn hóa Việt Nam trở thành một chủ thể có sức sáng tạo và sức hấp dẫn trong chính không gian ấy.
PV: Việc chuyển hóa di sản văn hóa thành “nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia” đang là khoảng trống, là rào cản lớn cho phát triển văn hóa hiện nay. Làm thế nào để việc chuyển hóa kho tàng tri thức này thành tài sản đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế số?
GS.TS Từ Thị Loan: Rào cản lớn nhất hiện nay không phải là chúng ta thiếu di sản, thiếu dữ liệu hay thiếu tiềm năng sáng tạo, mà là chưa hình thành được một hệ sinh thái đủ hoàn chỉnh để chuyển hóa di sản thành dữ liệu, từ dữ liệu thành tri thức, từ tri thức thành tài sản trí tuệ và từ tài sản trí tuệ thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế.
Hiện nay, việc số hóa di sản ở nhiều nơi vẫn chủ yếu dừng ở khâu sưu tầm, lưu trữ, lập hồ sơ hoặc xây dựng các cơ sở dữ liệu riêng lẻ. Dữ liệu còn phân tán, thiếu chuẩn chung và chưa liên thông. Quan trọng hơn, chúng ta chưa giải quyết đầy đủ các vấn đề về quyền sở hữu, quyền khai thác, bản quyền, quyền của cộng đồng chủ thể di sản và cơ chế chia sẻ lợi ích. Đây là những điểm nghẽn khiến dữ liệu văn hóa chưa thực sự trở thành một loại tài sản có thể khai thác và tái đầu tư.
Để biến kho tàng di sản thành tài sản đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế số, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp.
Trước hết, cần xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia theo hướng số hóa có hệ thống, chuẩn hóa, liên thông và có khả năng cập nhật.
Tiếp đó, cần xác lập khung pháp lý rõ ràng cho việc quản trị và khai thác dữ liệu di sản, trong đó bảo đảm hài hòa giữa lợi ích quốc gia, quyền của cộng đồng và quyền của các chủ thể sáng tạo.
Cuối cùng, cần hình thành các đội ngũ và doanh nghiệp có khả năng kết nối văn hóa với công nghệ, kinh doanh và sáng tạo. Từ dữ liệu di sản có thể phát triển phim ảnh, âm nhạc, trò chơi, thời trang, thiết kế, xuất bản, giáo dục số, du lịch trải nghiệm và nhiều sản phẩm công nghiệp văn hóa khác.
Nói cách khác, chúng ta cần chuyển từ tư duy “số hóa để lưu giữ” sang “số hóa để kết nối, sáng tạo và phát triển”. Khi đó, di sản không chỉ là ký ức của quá khứ, mà trở thành nguồn dữ liệu, tri thức, tài sản trí tuệ và nguồn lực sáng tạo đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế số và sức mạnh mềm của Việt Nam.
PV: Việt Nam đang thiếu những “mảnh ghép” để hiện thực hóa tỷ trọng ngành công nghiệp văn hóa từ khoảng 4% GDP hiện nay tăng lên 7% vào năm 2030) và 9% vào năm 2045?
GS.TS Từ Thị Loan: Để công nghiệp văn hóa tăng tỷ trọng đóng góp từ khoảng 4% GDP hiện nay lên 7% vào năm 2030 và 9% vào năm 2045, theo tôi, vấn đề không chỉ là đặt ra mục tiêu tăng trưởng, mà quan trọng hơn là phải xây dựng được một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đủ hoàn chỉnh, trong đó thể chế và chính sách đóng vai trò tạo lập thị trường, giảm rủi ro và khuyến khích đầu tư dài hạn.
“Mảnh ghép” đầu tiên còn thiếu là một khung thể chế đủ đồng bộ cho công nghiệp văn hóa. Hiện nay, các ngành như điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, quảng cáo, thời trang, thiết kế, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử… chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật và cơ chế khác nhau. Vì vậy, cần có cách tiếp cận liên ngành, thống nhất hơn về khái niệm, phạm vi, dữ liệu thống kê, cơ chế quản lý và chính sách phát triển công nghiệp văn hóa.
“Mảnh ghép” thứ hai là chính sách tài chính và đầu tư đủ sức hấp dẫn. Đầu tư vào công nghiệp sáng tạo thường có rủi ro cao, tài sản chủ yếu là ý tưởng, bản quyền và tài sản vô hình. Vì vậy, cần phát triển các quỹ đầu tư cho văn hóa và sáng tạo, cơ chế đồng đầu tư công - tư, ưu đãi thuế, tín dụng phù hợp và các mô hình quỹ hỗ trợ sản xuất, phân phối, quảng bá sản phẩm văn hóa.
“Mảnh ghép” thứ ba là cơ chế bảo vệ và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ. Nếu bản quyền không được bảo vệ, doanh nghiệp sẽ không có động lực đầu tư dài hạn. Ngược lại, khi quyền sở hữu trí tuệ được xác lập rõ ràng, tài sản văn hóa có thể trở thành tài sản thế chấp, gọi vốn, chuyển nhượng và phát triển thành chuỗi giá trị.
Cuối cùng là cần xây dựng một hệ sinh thái kết nối giữa nghệ sĩ, doanh nghiệp, công nghệ, tài chính, giáo dục, truyền thông và thị trường quốc tế.
Tôi cho rằng, Nhà nước không nhất thiết phải làm thay thị trường, nhưng cần làm tốt vai trò kiến tạo thể chế, đầu tư hạ tầng, giảm rủi ro ban đầu và mở rộng không gian sáng tạo. Khi những “mảnh ghép” đó được kết nối đồng bộ, công nghiệp văn hóa mới thực sự trở thành một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
Phát triển văn hóa để tạo nền tảng và động lực cho phát triển bền vững
PV: Việc chuyển dịch từ “coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới”. Chuyển dịch này sẽ tác động như thế nào đến phát triển kinh tế - xã hội?
GS.TS Từ Thị Loan: Đây là một sự chuyển biến rất quan trọng về nhận thức và mô hình phát triển. Trước đây, trong không ít trường hợp, văn hóa thường được nhìn nhận chủ yếu như một lĩnh vực hoạt động xã hội, một lĩnh vực cần được đầu tư và hỗ trợ. Cách tiếp cận mới đặt văn hóa vào vị trí sâu rộng hơn: văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là hệ giá trị định hướng, vừa là nguồn lực nội sinh và động lực của phát triển.
Khi xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới, điều đó không có nghĩa là tách văn hóa thành một lĩnh vực độc lập, hay đơn giản là tăng thêm ngân sách cho văn hóa. Quan trọng hơn, đó là yêu cầu tích hợp văn hóa vào toàn bộ quá trình phát triển. Mọi chính sách kinh tế, quy hoạch, giáo dục, khoa học - công nghệ, đô thị, môi trường hay đối ngoại đều cần được xem xét cả từ góc độ văn hóa: chính sách đó có góp phần xây dựng con người, củng cố niềm tin xã hội, bảo vệ bản sắc và nâng cao chất lượng sống hay không.
Sự thay đổi thứ hai là chuyển từ tư duy “chi cho văn hóa” sang “đầu tư cho văn hóa”. Văn hóa tạo ra những giá trị không chỉ về tinh thần mà còn có thể chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế thông qua công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, thương hiệu quốc gia và sức mạnh mềm.
Thứ ba, điều này đòi hỏi thay đổi phương thức quản trị. Văn hóa không thể chỉ được quản lý theo mô hình hành chính - bao cấp, mà cần phát huy vai trò của nhà nước, thị trường, doanh nghiệp, nghệ sĩ, cộng đồng và người dân trong một hệ sinh thái hợp tác.
Tôi cho rằng, khi văn hóa được xác lập là trụ cột của phát triển, thước đo thành công của phát triển cũng cần được mở rộng. Không chỉ là tăng trưởng GDP, mà còn là chất lượng con người, mức độ gắn kết xã hội, niềm tin, sự sáng tạo, bản sắc và khả năng tạo ra những giá trị mới. Nói cách khác, đây là sự chuyển dịch từ quan niệm “phát triển kinh tế để có điều kiện làm văn hóa” sang quan niệm “phát triển văn hóa để tạo nền tảng và động lực cho phát triển bền vững”.
PV: Nhìn một cách tổng thể, “4 khoảng trống” chính là những nút thắt, “3 chuyển dịch” là giải pháp chiến lược để tháo gỡ, phát triển. Đây có phải là kim chỉ nam mang tính đột phá cho văn hóa Việt Nam phát triển?
GS.TS Từ Thị Loan: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra “4 khoảng trống” cho thấy những điểm nghẽn cần được tháo gỡ, và “3 chuyển dịch” xác định hướng đi chiến lược của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới. Theo tôi, giải pháp đột phá nhất là xây dựng một hệ sinh thái phát triển văn hóa hiện đại, trong đó thể chế, công nghệ, nguồn lực, thị trường và con người được kết nối thành một chỉnh thể.
Trước hết, cần tạo ra một cuộc đột phá về thể chế. Tư duy quản lý văn hóa phải chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển; từ kiểm soát từng hoạt động sang xây dựng môi trường, thị trường và không gian sáng tạo. Các chính sách cần có tính liên ngành, dài hạn, ổn định và đủ khả năng khuyến khích doanh nghiệp, nghệ sĩ, cộng đồng và các chủ thể xã hội cùng tham gia.
Thứ hai, cần thực hiện đột phá về số hóa và công nghệ. Phải coi dữ liệu văn hóa, di sản số, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo là hạ tầng mới của phát triển văn hóa. Công nghệ không chỉ giúp lưu giữ di sản, mà phải giúp sáng tạo những sản phẩm mới, mở rộng công chúng, hình thành thị trường và đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Thứ ba, cần đột phá về đầu tư và cơ chế huy động nguồn lực. Văn hóa phải được nhìn nhận là đầu tư cho phát triển, đồng thời huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội thông qua hợp tác công - tư, các quỹ văn hóa và sáng tạo, ưu đãi đầu tư và cơ chế chia sẻ lợi ích phù hợp.
Cuối cùng, yếu tố quyết định vẫn là con người. Cần phát triển một thế hệ công dân có năng lực sáng tạo, năng lực số, có bản lĩnh văn hóa và khả năng hội nhập.
Tôi cho rằng, đột phá lớn nhất chính là thay đổi tư duy: không chỉ bảo tồn những gì đã có, mà phải biến các giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển; không chỉ đưa văn hóa thích ứng với thời đại, mà để văn hóa dẫn dắt sự phát triển. Khi đó, văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và sức mạnh mềm của Việt Nam.
PV: Xin cám ơn giáo sư Từ Thị Loan!