Học không chỉ để xin việc
VOV.VN - Giáo dục không chỉ dừng ở mục tiêu “xin việc” mà cần hướng tới năng lực tự tạo việc làm. Từ đại học đến giáo dục nghề nghiệp, người học phải được trang bị kỹ năng sống bằng nghề, tư duy khởi nghiệp và khả năng thích ứng với thị trường lao động hiện đại.
Con vào đại học, nhiều phụ huynh đã bị hỏi ngay: “Sau này có quen ai để xin việc chưa?” Đến lúc tốt nghiệp, sinh viên lại thường nghe một câu quen khác: “Xin được việc ở đâu chưa?” Hai chữ “xin việc” lặp đi lặp lại đến mức thành phản xạ xã hội. Nó cho thấy một cách nghĩ đã bám khá sâu: học xong là đi tìm, xin một chỗ được nhận vào. Ít ai hỏi người học có thể làm được gì, sống được bằng năng lực nào, hay tự tạo việc làm cho mình ra sao.
Chính vì thế, khi Bộ trưởng Bộ GDĐT mới đây nhắc người học phải làm chủ bản thân, biết sáng tạo và có tinh thần khởi nghiệp, điều đáng chú ý không phải là lời kêu gọi tất cả đi mở doanh nghiệp. Điều đáng nói hơn là một triết lý đào tạo: học không chỉ để xin việc, mà để tự tạo việc làm cho mình và tạo cơ hội việc làm cho người khác.
Cách hiểu ấy phù hợp với sinh viên đại học và người học nghề hiện nay. Học nghề là học để có một năng lực cụ thể trong tay, sống được bằng nghề đó, đứng được trên đôi chân của mình bằng nghề đó. Từ một người thợ lành nghề có thể hình thành một cửa hàng nhỏ, một tổ dịch vụ, một xưởng sản xuất, một cơ sở chăm sóc, một nhóm làm việc chuyên môn. Từ chỗ tự nuôi sống mình, người học nghề có thể kéo thêm việc làm cho người khác. Khởi nghiệp vì thế không phải đặc quyền của cử nhân, càng không nên bị hiểu hẹp là chuyện của vài ngành kinh tế hay công nghệ.
Lâu nay ta vẫn quen nghĩ kinh tế tăng trưởng thì việc làm sẽ tăng theo, trường học cứ đào tạo ra, còn xã hội sẽ tự bố trí chỗ đứng cho người học. Thực tế không đơn giản như vậy. GDP có thể tăng nhưng việc làm không tăng tương ứng. Năng suất lao động tăng lên thì cùng một khối lượng công việc có khi cần ít người hơn. Tự động hóa lấy đi một phần việc cũ. Có ngành tăng mạnh nhưng không hút được nhiều lao động. Bản thân tăng trưởng cũng có giới hạn. Nền kinh tế không thể cứ phình ra mãi để tạo sẵn đủ chỗ cho mọi người ra trường ngồi vào.
Ý nghĩa sâu hơn của đào tạo tinh thần khởi nghiệp là giúp người học biết nhìn ra nhu cầu, phát hiện vấn đề và tạo ra giá trị từ chính năng lực của mình. Người học đại học có thể làm điều đó bằng tri thức và sáng kiến; người học nghề bằng tay nghề, chất lượng dịch vụ và uy tín nghề nghiệp. Gốc vẫn là một: không chỉ đi xin việc, mà học cách tự tạo việc làm cho mình trong giới hạn thực của nền kinh tế.
Sẽ rất hẹp nếu coi khởi nghiệp chỉ dành cho sinh viên đại học. Người học sửa chữa điện, điện tử có thể mở cửa hàng bảo trì và bán thiết bị. Người học nghề tóc có thể mở tiệm, đào tạo thợ phụ, bán mỹ phẩm. Người học điện lạnh, nấu ăn, chụp ảnh hay thiết kế cũng có thể dựng lên dịch vụ riêng từ kỹ năng của mình. Xã hội không chỉ cần những người lập công ty lớn, mà còn cần rất nhiều người có nghề, có sáng kiến và tự tạo được sinh kế bền vững từ những nhu cầu rất cụ thể của đời sống.
Ngay cả trong đào tạo văn hóa nghệ thuật, điều này cũng rất đáng nghĩ. Một lần đi công tác ở Brunei, tôi thấy trong khách sạn có một nhóm nghệ sĩ Philippines hát và hòa tấu phục vụ khách. Hỏi ra mới biết bên đó có khá nhiều “gánh hát” (live band) như vậy. Chi tiết nhỏ ấy gợi ra một điều lớn hơn: đào tạo nghệ thuật ở đó gắn với thị trường lao động thật. Người học không chỉ được chuẩn bị để xin vào một đoàn nghệ thuật hay nhà hát cố định, mà còn có thể tự lập nhóm, tự tìm hợp đồng, tự sống bằng nghề, rồi tạo thêm việc làm cho người khác. Trong khi đó, ở ta, không ít người học ở các trường văn hóa nghệ thuật vẫn bị dẫn dắt theo một quán tính cũ: nhắm vào các đơn vị nhà nước, trong khi lại thiếu những kỹ năng để làm chủ tay nghề của mình trên thị trường trong nước và quốc tế. Dạy nghề mà không dạy cách đưa nghề ra thị trường thì người học dễ giỏi trong trường, nhưng lúng túng giữa đời sống thật.
Muốn tinh thần khởi nghiệp được dạy hiệu quả, đại học không thể vẫn giảng một chiều nhồi nhét thiếu thực tế, thi cuối kỳ rồi mong sinh viên sáng tạo; giáo dục nghề nghiệp cũng không thể chỉ dạy vài thao tác nghề rồi coi như xong. Ngoài tay nghề, người học cần được rèn cách sống được bằng nghề: giao tiếp với khách hàng, tính chi phí, giữ chất lượng, tổ chức công việc, hiểu pháp lý cơ bản, biết dùng công nghệ số để tìm đầu ra và giữ uy tín nghề nghiệp. Học nghề mà không học cách sống bằng nghề thì vẫn thiếu một nửa.
Vai trò của thầy cô không chỉ truyền kiến thức hay dạy thao tác, mà phải giúp người học biến ý tưởng thành việc làm cụ thể. Nhà trường cũng không thể dừng ở vài cuộc thi hay ngày hội, mà phải tạo ra môi trường để người học được làm chủ, được bộ lộ năng lực tiềm ẩn, được làm, được sai rồi sửa; chương trình và cách đánh giá khô cứng và kết nối với thị trường hơn.
Thông điệp của Bộ trưởng là lời nhắn gửi chung cho cả sinh viên đại học và cho những người học sau THPT. Giáo dục nghề nghiệp phải đào tạo người biết sống được bằng nghề và mở việc từ nghề. Các trường văn hóa nghệ thuật cũng phải giúp người học đưa tài năng của mình ra thị trường, chứ không chỉ hướng vào một cánh cửa công lập ngày càng hẹp.
Một nền giáo dục chỉ chăm chăm đào tạo người đi tìm chỗ làm trống sẽ luôn bị động trước giới hạn của tăng trưởng. Một nền giáo dục biết dạy người học tự mở đường sống cho mình mới có thể mở thêm cơ hội sống cho xã hội.
Học nghề hay học đại học không chỉ để đi xin việc, mà để tự tạo việc làm cho mình và mở thêm cơ hội việc làm cho người khác. Đó là triết lý đào tạo cần có trong nền kinh tế thị trường hôm nay.