Nghị quyết 71 mở cánh cửa mới cho học sinh vùng biên xứ Thanh
VOV.VN - Năm học 2026-2027 là năm đầu triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Tại Thanh Hóa, 6 trường phổ thông dân tộc nội trú ở khu vực biên giới được đưa vào sử dụng, mở thêm cơ hội học tập, ăn ở thuận lợi hơn cho học sinh vùng khó.
Từ những bước chân trước 5 giờ sáng
Trước 5 giờ sáng, khi nhiều gia đình còn chìm trong giấc ngủ, một số học sinh ở xã Tam Thanh đã phải rời nhà để đến lớp. Có em đi bộ, có em được người thân đưa đi. Quãng đường xa nhất từ nhà đến trường khoảng 8 km, chủ yếu là học sinh ở khu Pa, bản Thanh Lâm. Có thời điểm, hơn 130 học sinh phải đi bộ đến trường.
Thầy Hà Văn Khoa, Hiệu trưởng Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Tam Thanh, nhớ lại những ngày việc đến lớp của học sinh còn gắn với một hành trình không dễ dàng.
“Có những em phải đi từ trước 5 giờ sáng. Có em tự đi bộ, có em được người nhà đưa đi”, thầy Khoa nói.
Tam Thanh là địa bàn có 100% đồng bào dân tộc Thái; học sinh của trường cũng chủ yếu là người Thái, chiếm khoảng 98%. Với những gia đình còn nhiều khó khăn, khoảng cách từ nhà đến trường không chỉ được tính bằng kilomet. Đó còn là thời gian đi lại, sức khỏe, sự an toàn và khả năng duy trì việc học của mỗi học sinh.
Nhiều phụ huynh đi làm ăn xa, con ở với ông bà. Một số em phải ở nhờ nhà người thân hoặc thuê trọ để theo học. Những ngày học cả ngày, các em tự mang thức ăn đến trường. Bữa trưa nhiều khi chỉ là suất ăn tạm.
Bởi vậy, việc Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Tam Thanh được khánh thành, đưa vào sử dụng trong năm học 2026-2027 mang ý nghĩa rất cụ thể. Học sinh ở các bản xa có thêm nơi học tập, ăn ở, sinh hoạt ngay tại trường; thời gian đi lại được rút ngắn, gia đình cũng giảm áp lực đưa đón và lo chỗ ở cho con.
Câu chuyện ở Tam Thanh cũng là vấn đề đặt ra tại nhiều địa bàn biên giới khác của Thanh Hóa. Tại xã Sơn Thủy, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Sơn Thủy tổ chức dạy học từ lớp 1 đến lớp 9, gồm 16 lớp tiểu học và 8 lớp THCS. Năm học 2026-2027, trường có 665 học sinh, trong đó 281 học sinh THCS.
Theo Hiệu trưởng Phạm Văn Thành, nhóm học sinh được ưu tiên gồm học sinh thuộc diện chính sách, học sinh dân tộc thiểu số, học sinh ở các bản cách trường hơn 20 km, học sinh có hoàn cảnh khó khăn và học sinh ở xa trường.
Khu bếp, nhà ăn của trường được thiết kế phục vụ khoảng 1.000 học sinh; các thiết bị phục vụ nấu ăn bán trú, nội trú đã được trang bị tương đối đầy đủ.
Một ngôi trường nội trú vì thế không đơn thuần là thêm phòng học. Cùng với lớp học là chỗ ở, bữa ăn và môi trường sinh hoạt. Những hạng mục ấy giải quyết từng phần những trở ngại vốn khiến học sinh vùng xa khó tiếp cận giáo dục.
Từ bữa cơm nguội đến mái nhà chung
Năm học này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Na Mèo có 635 học sinh, trong đó 599 học sinh dân tộc thiểu số. Trước đây, với nhiều học sinh ở các bản xa trường, việc học cả ngày còn đi cùng nỗi lo về bữa ăn giữa ngày. Có em phải mang cơm từ nhà, đến trưa thức ăn đã nguội.
Năm học mới, mô hình nội trú, bán trú và bếp ăn tập trung được tổ chức để học sinh được chăm lo thuận lợi hơn từ việc học đến ăn, ở và sinh hoạt.
Theo thầy Nguyễn Văn Dương, Hiệu trưởng Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Na Mèo, năm học này trường có 351 học sinh bán trú. Nhà trường tổ chức bữa ăn phù hợp với điều kiện từng điểm trường, bảo đảm các em được ăn đầy đủ, đúng giờ. Tại điểm lẻ Ché Lầu, 33 học sinh bán trú được phục vụ ăn trưa tại bếp ăn bố trí ngay tại trường từ ngày 5/9/2026 đến hết mùa mưa, với một nhân viên nấu ăn. Trong khi đó, tại các điểm Sa Ná, Xộp Huối và Cha Khót có lần lượt 23, 67 và 11 học sinh; do giao thông thuận lợi, cơm được nấu tại điểm chính rồi vận chuyển đến các điểm lẻ, phục vụ 101 học sinh ăn trưa. Tại điểm trường chính, 62 bàn ăn được bố trí tại nhà ăn lắp ghép và các phòng học, phục vụ bữa trưa cho 215 học sinh bán trú, 284 học sinh nội trú và bữa chiều cho 284 học sinh nội trú.
Tại Bát Mọt, một xã vùng cao biên giới, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 98% dân số. Toàn xã có 8 thôn nằm rải rác trên địa bàn rộng. Điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, đời sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp.
Trong điều kiện ấy, việc đưa con em đến trường, duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng giáo dục luôn là nhiệm vụ không dễ dàng.
Vì vậy, sự hiện diện của một trường phổ thông nội trú liên cấp được đầu tư khang trang, đồng bộ không chỉ bổ sung cơ sở vật chất. Ngôi trường tạo điều kiện để học sinh được học tập, sinh hoạt, rèn luyện ngay tại quê hương.
Già làng Lang Minh Huyến, ở thôn Khẹo, người có uy tín trong cộng đồng, năm nay gần 80 tuổi, không giấu được niềm vui khi chứng kiến ngôi trường mới hoàn thành.
“Người dân chúng tôi mừng lắm. Trước đây điều kiện học tập của con cháu còn nhiều thiếu thốn, nay có trường mới khang trang, các cháu được học tập tốt hơn, bà con càng thêm tin tưởng vào sự quan tâm của Đảng, Nhà nước. Chúng tôi mong các cháu chăm ngoan, học giỏi để sau này trở về xây dựng quê hương”, ông Huyến chia sẻ.
Từ niềm vui của một già làng, câu chuyện về trường học được nối với một kỳ vọng lớn hơn: những đứa trẻ hôm nay được học hành đầy đủ hơn, sau này có kiến thức, có nghề nghiệp và có thể trở về đóng góp cho chính quê hương mình.
Ở Tam Lư, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Tam Lư tọa lạc tại bản Làng, xã Tam Lư, được xây dựng trên diện tích khoảng 6 ha, quy mô 39 lớp với hơn 1.000 học sinh, tổng mức đầu tư 187 tỷ đồng.
Ngay trước thềm khai giảng, các đơn vị thi công, lực lượng chức năng và chính quyền địa phương khẩn trương hoàn thiện những hạng mục còn lại, bảo đảm tiến độ, chất lượng, an toàn lao động và vệ sinh môi trường.
Nhưng điều làm nên giá trị của ngôi trường không chỉ nằm ở diện tích hay tổng mức đầu tư. Đây được xác định là “mái nhà chung”, nơi học sinh học tập, ăn ở, sinh hoạt và rèn luyện. Hệ thống phòng học, khu nội trú và các công trình phục vụ học tập, sinh hoạt được đầu tư đồng bộ, tạo môi trường giáo dục an toàn, thuận lợi hơn cho học sinh vùng biên.
Khi cánh cửa trường học mở rộng hơn
Nếu những con số về lớp học, phòng ở, bếp ăn cho thấy sự thay đổi về điều kiện vật chất, thì câu chuyện của học sinh, phụ huynh lại cho thấy rõ hơn ý nghĩa của những ngôi trường mới.
Trong ngày khai giảng tại Sơn Thủy, Thao Việt Thành, học sinh bản Mùa Xuân, đến trường cùng mẹ là chị Hơ Thị Tro. Hai mẹ con mặc trang phục truyền thống và có mặt từ sớm.
“Nhà ở xa trường nhưng khai giảng là ngày rất vui và quan trọng nên hai mẹ con dậy sớm, mặc trang phục truyền thống đẹp nhất để đến trường. Tôi mong con có một năm học thật tốt, được học tập trong ngôi trường mới khang trang, đầy đủ hơn”, chị Hơ Thị Tro nói.
Niềm vui của người mẹ được tiếp sức bằng sự chuẩn bị của cả cộng đồng. Để chuẩn bị cho năm học mới, xã Sơn Thủy huy động các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang, đoàn thể, cán bộ, giáo viên và người dân chỉnh trang khuôn viên, sắp xếp cơ sở vật chất, trồng cây xanh và vệ sinh trường lớp.
Ông Mạc Văn Tới, Chủ tịch UBND xã Sơn Thủy, cho biết địa phương đã huy động các lực lượng chuẩn bị cho lễ khánh thành và khai giảng. Theo ông, trường mới tạo thêm môi trường học tập an toàn, khang trang cho học sinh các dân tộc trên địa bàn.
Tại Yên Khương, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Yên Khương có 712 học sinh, gồm 372 học sinh tiểu học và 340 học sinh THCS. Trong đó, 487 em học nội trú và 225 em bán trú. Hầu hết học sinh là người dân tộc Thái; trường có 11 học sinh dân tộc Kinh và 11 học sinh dân tộc Mường.
Riêng bản Xắng Hằng, giáp Lào, cách trường 14 km, có 21 học sinh từ lớp 1 đến lớp 3 được người lớn đưa đón hằng ngày. Những học sinh các khối lớp lớn hơn ở nội trú tại trường.
Ông Lò Văn Hợp, người dân bản Xắng Hằng, cho biết trước đây việc đi học xa khiến gia đình lo lắng. “Giờ trường gần hơn, lại có chỗ ăn ở cho các cháu, gia đình yên tâm hơn nhiều. Bà con chúng tôi mong nhất là các cháu có chỗ học hành tử tế, đi học đầy đủ, biết cái chữ, sau này có cái nghề, cuộc sống đỡ khổ hơn bố mẹ”, ông Hợp chia sẻ.
Từ Tam Thanh, Sơn Thủy, Na Mèo, Bát Mọt, Tam Lư đến Yên Khương, 6 ngôi trường mới đang tạo ra những thay đổi trực tiếp đối với việc học tập và sinh hoạt của học sinh vùng biên. Các em có thêm nơi ăn ở, giảm thời gian đi lại; gia đình bớt áp lực đưa đón, lo chỗ ở và bữa ăn cho con trong thời gian học tập.
Địa hình miền núi, khoảng cách giữa các bản, điều kiện giao thông và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số khiến giáo dục vùng biên không thể chỉ giải quyết bằng việc xây thêm phòng học. Cần những mô hình phù hợp với chính đặc điểm dân cư và địa bàn. Trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp là một trong những giải pháp Thanh Hóa triển khai trong năm học 2026-2027.
Mở cánh cửa mới từ giáo dục vùng biên
Năm học 2026-2027 cũng là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Trong bức tranh chung ấy, việc Thanh Hóa đưa 6 trường phổ thông dân tộc nội trú tại các xã vùng biên giới vào sử dụng mang một ý nghĩa riêng: đưa điều kiện học tập tốt hơn đến gần hơn với những học sinh ở địa bàn còn nhiều khó khăn.
Ông Đỗ Đức Quế, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, cho biết việc khánh thành và đưa vào sử dụng 6 trường nội trú tại các xã vùng biên giới đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong sự nghiệp giáo dục vùng biên còn nhiều khó khăn của tỉnh.
Theo ông Đỗ Đức Quế, đây không chỉ là những công trình trường học khang trang, hiện đại, mà còn là sự kết tinh của sự quan tâm, trách nhiệm và quyết tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền và toàn xã hội đối với sự nghiệp giáo dục; là niềm tin, niềm hy vọng dành cho các em học sinh nơi biên cương của Tổ quốc.
Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa mong muốn các nhà trường tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, kỷ cương và nhân văn; các thầy cô giáo luôn tận tâm, sáng tạo, hết lòng vì học sinh; các em học sinh nỗ lực học tập, rèn luyện, nuôi dưỡng ước mơ và khát vọng vươn lên.
Từ những bước chân rời nhà trước 5 giờ sáng ở Tam Thanh đến những bữa cơm được chuẩn bị tại trường ở Na Mèo; từ niềm vui của người dân Bát Mọt, Sơn Thủy đến sự yên tâm của các gia đình ở Yên Khương, câu chuyện về 6 ngôi trường vùng biên không chỉ là câu chuyện của những công trình mới.
Đó là câu chuyện về cách một cánh cửa trường học được mở rộng hơn với trẻ em vùng khó; để khoảng cách địa lý không còn là rào cản quá lớn trên hành trình đến lớp. Và rộng hơn, đó cũng là cách tinh thần của Nghị quyết 71 được cụ thể hóa từ những điều gần gũi nhất: tạo cơ hội học tập tốt hơn, xây dựng môi trường giáo dục tốt hơn và gieo thêm niềm tin, khát vọng cho những thế hệ trẻ nơi biên cương.