Sắp xếp cơ sở giáo dục ở xã miền núi Thanh Hóa: Giữ vững con đường đến lớp
VOV.VN - Sắp xếp cơ sở giáo dục là chủ trương cần thiết nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, tại các xã miền núi Thanh Hóa, mỗi phương án triển khai đều phải đặt quyền học tập của học sinh lên hàng đầu, bảo đảm mọi trẻ em vẫn được đến trường thuận lợi.
Nơi mỗi học sinh đến trường là nỗ lực của cả cộng đồng
Thực hiện chủ trương sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Thanh Hóa đang quyết liệt triển khai phương án tinh gọn bộ máy, hướng tới mục tiêu giảm tối thiểu 30% đầu mối quản lý, nơi có điều kiện thuận lợi giảm khoảng 50%. Đây là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực và từng bước nâng cao chất lượng giáo dục.
Thế nhưng, ở các xã miền núi, biên giới của Thanh Hóa, việc sắp xếp trường học không đơn thuần là bài toán giảm số lượng đầu mối. Đằng sau mỗi phương án là câu chuyện về địa hình chia cắt, những bản làng xa xôi và quyền được đến trường của hàng nghìn học sinh vùng cao. Vì vậy, tinh gọn phải đi đôi với một nguyên tắc xuyên suốt: không để bất kỳ đứa trẻ nào bị bỏ lại phía sau vì khoảng cách địa lý.
Nếu ở khu vực đồng bằng, việc sáp nhập trường học chủ yếu là bài toán tổ chức bộ máy thì tại miền núi Thanh Hóa, mỗi phương án đều phải tính đến địa hình, phân bố dân cư, điều kiện kinh tế và khả năng đi lại của học sinh.
Nhiều bản làng nằm cheo leo trên sườn núi, ven sông, ven suối; quãng đường từ nhà đến trường có nơi dài từ 5 đến 8km. Không ít học sinh mầm non, tiểu học vẫn phải vượt dốc, băng qua suối hoặc đi trên những con đường đất trơn trượt vào mùa mưa. Bởi vậy, tinh gọn đầu mối không thể đồng nghĩa với việc xóa bỏ cơ học các điểm trường mà phải bảo đảm mục tiêu cao nhất là giữ vững cơ hội học tập cho trẻ em vùng cao.
Tại xã Thiên Phủ, nơi gần 95% dân số là đồng bào Mường và Thái, tỷ lệ nghèo đa chiều vẫn còn trên 33%, trong đó hộ nghèo chiếm 6,24% và hộ cận nghèo gần 27%. Điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn khiến việc học của trẻ em chịu không ít tác động. Nhiều phụ huynh đi làm ăn xa, con ở với ông bà; việc học phần lớn trông cậy vào nhà trường.
Theo ông Phan Văn Đại, Chủ tịch UBND xã Thiên Phủ, để giữ học sinh đến lớp, địa phương không chỉ giao trách nhiệm cho ngành giáo dục mà huy động cả hệ thống chính trị cùng tham gia. Mỗi khi có học sinh nghỉ học, cán bộ xã, trưởng bản trực tiếp đến từng gia đình vận động. Các mô hình như "Bàn học cho em", sân chơi trải nghiệm, hoạt động tuyên truyền pháp luật, biểu dương học sinh và giáo viên tiêu biểu được duy trì thường xuyên nhằm tạo động lực cho các em gắn bó với trường lớp.
Nhờ sự vào cuộc đồng bộ ấy, nhận thức của nhiều gia đình về vai trò của giáo dục đã từng bước thay đổi. Từ chỗ coi việc học là trách nhiệm của nhà trường, người dân đã chủ động đồng hành cùng chính quyền chăm lo việc học của con em mình.
Theo phương án dự kiến, Thiên Phủ sẽ sắp xếp từ 5 trường xuống còn 3 trường, giảm khoảng 40% đầu mối quản lý. Số điểm trường lẻ cũng được rà soát từ 15 xuống còn 10 điểm vào năm 2030. Trước khi triển khai, địa phương đã tổ chức lấy ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên và nhận được sự đồng thuận cao.
Thực tế tại Thiên Phủ cho thấy, hiệu quả của giáo dục vùng cao không chỉ được quyết định bởi số lượng trường học mà còn ở khả năng giữ học sinh gắn bó với lớp học. Đó cũng là yếu tố cần được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình sắp xếp mạng lưới trường học.
Đổi mới để phát triển, lấy học sinh làm trung tâm
Khác với nhiều địa phương khác, Thanh Quân không có trường học nào dưới quy mô tối thiểu theo quy định. Tuy nhiên, mạng lưới trường học còn phân tán, đặc biệt ở bậc mầm non, trong khi quy mô một số trường THCS mới chỉ đạt mức tối thiểu. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất.
Năm học 2026-2027, toàn xã có 8 cơ sở giáo dục công lập với hơn 2.000 học sinh và trẻ mầm non. Theo phương án đề xuất, địa phương sẽ giảm từ 8 trường xuống còn 5 trường, tương đương giảm 37,5% đầu mối, đồng thời tổ chức các trường liên cấp tiểu học - THCS nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
Theo ông Lê Tiến Đạt, Chủ tịch UBND xã Thanh Quân, quá trình sắp xếp chắc chắn sẽ có những băn khoăn ban đầu từ giáo viên và phụ huynh. Tuy nhiên, phương án được xây dựng trên nguyên tắc không làm ảnh hưởng đến quyền học tập của học sinh, hạn chế tối đa sự xáo trộn và bảo đảm chất lượng giáo dục. Việc bố trí mạng lưới trường học cũng được tính toán kỹ lưỡng để phù hợp với điều kiện của địa bàn miền núi.
Việc sắp xếp vì thế không chỉ nhằm giảm đầu mối quản lý mà còn hướng tới sử dụng hiệu quả nguồn lực, tạo điều kiện để giáo viên phát huy năng lực, đồng thời nâng cao chất lượng dạy và học. Đây cũng là mục tiêu cốt lõi của quá trình đổi mới giáo dục công lập.
Nếu Thiên Phủ và Thanh Quân phản ánh yêu cầu tinh gọn bộ máy thì Mường Lý lại cho thấy tính đặc thù của một xã biên giới, nơi việc giữ lại một điểm trường nhiều khi đồng nghĩa với việc giữ cơ hội học tập cho hàng chục trẻ em.
Hiện xã có 5 trường học với 21 điểm trường lẻ ở bậc mầm non và tiểu học. Có những điểm trường cách trường chính từ 5 đến 8km; các hộ dân sinh sống rải rác trên các triền núi, ven sông, ven suối.
Theo ông Vi Văn Hùng, Chủ tịch UBND xã Mường Lý, địa phương dự kiến giảm từ 5 trường xuống còn 3 trường. Tuy nhiên, việc sắp xếp các điểm trường chỉ thực hiện đối với những điểm ở gần nhau. Theo phương án đề xuất, điểm trường mầm non sẽ giảm từ 11 xuống còn 8; điểm trường tiểu học từ 10 xuống còn 8.
“Nếu sáp nhập quá nhiều điểm trường, học sinh mầm non và tiểu học sẽ phải đi học xa hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ chuyên cần và làm gia tăng nguy cơ bỏ học.”, ông Vi Văn Hùng chia sẻ.
Đó cũng là thực tế ở nhiều xã vùng cao Thanh Hóa. Có những điểm trường chỉ vài chục học sinh nhưng lại là "cánh cửa" duy nhất để trẻ em ở các bản xa tiếp cận giáo dục. Vì vậy, giữ lại một số điểm trường không phải là sự chậm đổi mới, mà là lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tiễn, bảo đảm quyền học tập của trẻ em và góp phần giữ vững an sinh xã hội ở khu vực biên giới.
Chủ trương sắp xếp mạng lưới trường học là bước đi cần thiết trong tiến trình đổi mới hệ thống giáo dục công lập, phù hợp yêu cầu xây dựng nền hành chính tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, với miền núi Thanh Hóa, hiệu quả của chủ trương này không được đo bằng số trường giảm đi, mà bằng chất lượng giáo dục được nâng lên, bằng việc học sinh đến trường thuận lợi hơn và giáo viên có điều kiện phát huy năng lực tốt hơn.
Đối với vùng cao, một điểm trường không chỉ là nơi dạy chữ. Đó còn là nơi giữ chân trẻ em với con chữ, là điểm kết nối giữa chính quyền với người dân và là nền tảng để nuôi dưỡng nguồn nhân lực cho tương lai.
Tinh gọn bộ máy là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới. Nhưng trong giáo dục miền núi, giá trị của cuộc sắp xếp sẽ chỉ thật sự trọn vẹn khi con đường đến lớp của mỗi đứa trẻ vẫn được bảo đảm. Khi khoảng cách địa lý không còn là rào cản của tri thức, khi mọi học sinh đều được học tập trong điều kiện phù hợp hơn, đó mới là thành công lớn nhất của chủ trương đổi mới – một cuộc đổi mới đặt con người ở vị trí trung tâm và lấy quyền học tập của trẻ em làm thước đo cao nhất.