Tự chủ chiến lược quốc gia bắt đầu từ tư duy phát triển xanh và bền vững

VOV.VN - Bảo vệ môi trường không chỉ là yêu cầu phát triển bền vững mà còn là nền tảng của tự chủ chiến lược quốc gia. Việt Nam cần thúc đẩy tăng trưởng xanh, hoàn thiện thể chế và hành động thực chất để nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm lợi ích lâu dài cho các thế hệ mai sau.

Phát triển xanh - nền tảng của tự chủ chiến lược

Trong kỷ nguyên phát triển mới, tự chủ chiến lược quốc gia không chỉ được thể hiện qua năng lực kinh tế, quốc phòng, an ninh hay khoa học công nghệ, mà còn gắn chặt với khả năng bảo vệ tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Một quốc gia khó có thể duy trì tăng trưởng bền vững nếu nguồn nước bị suy thoái, hệ sinh thái bị tổn thương, môi trường sống xuống cấp và sức khỏe người dân phải đối mặt với những rủi ro ngày càng lớn.

Từ định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về bảo vệ môi trường, vấn đề đặt ra không chỉ là giải quyết những điểm nóng ô nhiễm trước mắt, mà còn phải thay đổi cách tiếp cận phát triển. Môi trường cần được nhìn nhận như một thành tố cấu thành chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế.

Phân tích về định hướng này, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng, bảo vệ môi trường cần gắn với tinh thần phát triển bền vững kinh tế biển theo Nghị quyết số 36-NQ/TW, đồng thời phù hợp với yêu cầu thúc đẩy kinh tế biển xanh và kinh tế xanh trong giai đoạn mới.

"Thực tế cho thấy, Việt Nam đã xác định tăng trưởng xanh là một định hướng phát triển từ nhiều năm trước. Tuy nhiên, để biến định hướng thành kết quả, vẫn cần những cơ chế đồng bộ, giải pháp có tính khả thi và nguồn lực đủ mạnh. Nếu chính sách chưa được cụ thể hóa bằng hành động rõ ràng, những hạn chế về chất lượng môi trường sẽ tiếp tục tạo ra sức ép đối với đời sống xã hội và tiến trình phát triển. Vì vậy, phát triển xanh không thể chỉ là một khẩu hiệu hay xu hướng mang tính thời điểm. Đó phải là lựa chọn chiến lược, được thể hiện trong từng quyết định đầu tư, từng quy hoạch phát triển, từng hoạt động sản xuất và từng cơ chế quản lý tài nguyên", PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nêu quan điểm.

Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng trước mắt

Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng phải trả giá bằng ô nhiễm kéo dài, tài nguyên cạn kiệt và chi phí khắc phục ngày càng lớn sẽ khó duy trì lợi thế trong dài hạn. Bởi vậy, nguyên tắc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá cần được cụ thể hóa bằng những tiêu chuẩn và trách nhiệm rõ ràng.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, bài toán không phải là lựa chọn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, mà là tìm kiếm mô hình phát triển có khả năng thực hiện đồng thời cả hai yêu cầu. Tăng trưởng phải tạo ra giá trị kinh tế thực chất, việc làm ổn định và nguồn lực cải thiện đời sống, đồng thời hạn chế những tổn thất đối với sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái.

Một dự án đầu tư không thể chỉ được đánh giá bằng tổng vốn, quy mô sản xuất hay số thu ngân sách. Những yếu tố như mức độ sử dụng tài nguyên, lượng phát thải, khả năng xử lý chất thải, hiệu quả năng lượng và chi phí phục hồi môi trường cũng cần được xem xét đầy đủ.

Nếu chi phí ô nhiễm bị chuyển sang cộng đồng, ngân sách nhà nước hoặc các thế hệ tương lai, lợi ích kinh tế trước mắt có thể không phản ánh đúng hiệu quả thực sự của dự án. Đây là lý do cần tăng cường trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp, bảo đảm nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật.

Phát triển bền vững còn là yêu cầu về công bằng giữa các thế hệ. Thế hệ hôm nay có quyền khai thác và sử dụng tài nguyên để phát triển, nhưng phải có trách nhiệm bảo đảm rằng các thế hệ mai sau vẫn còn những điều kiện thiết yếu để sinh sống và phát triển.

Hoàn thiện thể chế để biến chủ trương thành kết quả

Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay là thể chế hóa các định hướng bảo vệ môi trường, khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng và nâng cao hiệu quả thực thi. Đây là khâu quan trọng để chuyển từ nhận thức đúng sang hành động có kết quả cụ thể.

Thực tiễn cho thấy, chính sách môi trường chỉ phát huy hiệu quả khi xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và chủ thể liên quan. Cần làm rõ ai chịu trách nhiệm kiểm soát nguồn thải, ai thực hiện quan trắc, ai công khai dữ liệu và cơ quan nào phải chịu trách nhiệm khi các mục tiêu môi trường không đạt yêu cầu.

Cùng với đó, cần tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng; nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực chuyên môn; ứng dụng khoa học công nghệ trong quan trắc, dự báo và xử lý ô nhiễm. Việc phân cấp quản lý phải đi đôi với phân định trách nhiệm, bảo đảm nguồn lực và cơ chế giám sát, tránh tình trạng giao nhiệm vụ nhưng thiếu điều kiện thực hiện.

Đặc biệt, công tác bảo vệ môi trường cần chuyển mạnh từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa từ sớm, từ xa. Các nguồn thải phải được kiểm soát ngay trong quá trình sản xuất; những khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao cần được giám sát thường xuyên; các hành vi vi phạm phải được phát hiện và xử lý kịp thời.

Điều người dân cần không chỉ là những chương trình hay kế hoạch được công bố, mà là kết quả có thể kiểm chứng. Chất lượng nước được cải thiện đến đâu, lượng chất thải giảm như thế nào, tình trạng ô nhiễm có được kiểm soát ổn định hay không - tất cả cần được đánh giá bằng dữ liệu và công khai minh bạch. Một chính sách môi trường hiệu quả phải tạo ra thay đổi trong thực tế, giúp người dân được sống trong môi trường an toàn hơn và doanh nghiệp có điều kiện phát triển trên nền tảng trách nhiệm.

Quản lý môi trường theo hệ sinh thái, kết nối đất liền với biển

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho biết, ô nhiễm môi trường không dừng lại ở ranh giới hành chính. Nguồn thải từ thượng nguồn có thể tác động đến chất lượng nước ở hạ lưu; chất thải từ đô thị, khu công nghiệp và hoạt động sản xuất trên đất liền có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái ven biển. Vì vậy, quản lý môi trường cần được tiếp cận theo lưu vực sông, hệ sinh thái và mối liên kết từ đất liền ra biển. Đây cũng là vấn đề cần được tính đến trong quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức lại không gian phát triển và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Việc tổ chức lại bộ máy chỉ phát huy hiệu quả khi đi kèm cơ chế phối hợp rõ ràng, dữ liệu được chia sẻ và trách nhiệm được xác định cụ thể. Nếu mỗi địa phương chỉ tập trung xử lý vấn đề trong phạm vi của mình mà thiếu sự liên kết với các khu vực liên quan, những nguồn gây ô nhiễm xuyên vùng vẫn có thể tiếp tục tồn tại.

Đối với kinh tế biển, yêu cầu phát triển bền vững đòi hỏi chuyển từ tư duy khai thác tài nguyên đơn thuần sang sử dụng có trách nhiệm, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái. Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế để các doanh nghiệp và chủ thể sử dụng biển thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo vệ môi trường, đóng góp phù hợp cho việc duy trì nguồn lực tự nhiên.

Một vùng biển sạch không chỉ có ý nghĩa đối với đa dạng sinh học mà còn là nền tảng của du lịch, thủy sản và sinh kế cộng đồng. Không có chiến lược phát triển du lịch biển lâu dài nếu môi trường xuống cấp, nguồn thực phẩm thiếu an toàn và cảnh quan tự nhiên bị tổn hại. Do đó, bảo vệ môi trường biển phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế biển xanh, gắn lợi ích kinh tế trước mắt với khả năng duy trì tài nguyên trong dài hạn.

Khoa học công nghệ và nguồn nhân lực là động lực chuyển đổi xanh

Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, muốn phát triển xanh và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, Việt Nam cần đầu tư mạnh hơn cho khoa học công nghệ môi trường và nguồn nhân lực chuyên môn. Công nghệ quan trắc hiện đại, hệ thống cảnh báo sớm, giải pháp xử lý nước thải, tái chế chất thải và sử dụng năng lượng hiệu quả có thể giúp giảm chi phí sản xuất, hạn chế phát thải và nâng cao chất lượng quản lý. Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy tác dụng khi được lựa chọn phù hợp, vận hành đúng quy trình và gắn với cơ chế kiểm tra độc lập.

Bên cạnh đó, cần phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia và nhân lực kỹ thuật có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu ngày càng phức tạp của công tác bảo vệ môi trường. Việc phân định rõ giữa chức năng quản lý nhà nước, hoạt động nghiên cứu khoa học và nhiệm vụ thực thi chuyên môn sẽ góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, hạn chế chồng chéo và tăng hiệu quả chính sách.

Chuyển đổi xanh cũng mở ra cơ hội đổi mới mô hình sản xuất, phát triển kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy công nghiệp môi trường và tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Khi doanh nghiệp sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, giảm chất thải và đáp ứng tốt các tiêu chuẩn môi trường, khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng có điều kiện được nâng cao. Đây chính là mối liên hệ giữa bảo vệ môi trường và tự chủ chiến lược: đầu tư cho năng lực trong nước hôm nay sẽ góp phần giảm những chi phí phụ thuộc và rủi ro phát triển trong tương lai.

Phát huy trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, không thể chỉ trông chờ vào một cơ quan chuyên trách. Nhà nước, doanh nghiệp và người dân cần tham gia với trách nhiệm rõ ràng, cơ chế phối hợp hiệu quả và mục tiêu chung là bảo vệ lợi ích cộng đồng.

Nhà nước có trách nhiệm hoàn thiện thể chế, tổ chức thực thi pháp luật, công khai thông tin và bảo đảm các hành vi vi phạm được xử lý theo quy định. Doanh nghiệp phải tuân thủ tiêu chuẩn môi trường, kiểm soát chất thải và chịu trách nhiệm đối với những tác động phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Người dân cần được tạo điều kiện tham gia giám sát, phản ánh vi phạm và tiếp cận thông tin về chất lượng môi trường nơi mình sinh sống.

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh ý nghĩa của đối thoại giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp trong việc tìm kiếm giải pháp và xác định trách nhiệm. Đối thoại chỉ thực sự hiệu quả khi các ý kiến được chuyển thành kế hoạch hành động cụ thể, có thời hạn thực hiện và cơ chế kiểm tra kết quả.

Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế, thực hiện nghiêm túc các cam kết về môi trường và biến đổi khí hậu, chủ động tiếp cận công nghệ, kinh nghiệm quản trị tiên tiến. Hợp tác quốc tế cần song hành với việc nâng cao năng lực trong nước để Việt Nam vừa thực hiện trách nhiệm chung, vừa bảo đảm lợi ích phát triển lâu dài của mình.

Tự chủ chiến lược quốc gia trong kỷ nguyên mới không thể tách rời năng lực bảo vệ môi trường và quản trị tài nguyên. Một nền kinh tế muốn phát triển lâu dài phải có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh nguồn nước, kiểm soát ô nhiễm và duy trì các hệ sinh thái thiết yếu.

Từ định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và những phân tích của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, yêu cầu đặt ra là phải chuyển mạnh từ chủ trương sang hành động, từ cam kết sang kết quả và từ tư duy khai thác đơn thuần sang phát triển xanh, bền vững.

Điều đó đòi hỏi thể chế phải đi trước, khoa học công nghệ phải được ứng dụng hiệu quả, trách nhiệm của doanh nghiệp phải được thực hiện nghiêm túc và người dân phải thực sự được đặt ở vị trí trung tâm của chính sách môi trường. Bảo vệ môi trường không phải là rào cản của tăng trưởng, mà là nền tảng để phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực tự chủ của đất nước. Khi tăng trưởng xanh trở thành nguyên tắc trong mọi quyết định phát triển, Việt Nam sẽ có thêm điều kiện bảo vệ sức khỏe nhân dân, nâng cao năng lực cạnh tranh và gìn giữ những nguồn lực thiết yếu cho các thế hệ mai sau.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Hà Nội thí điểm túi rác tiêu chuẩn: "Bỏ rác đúng cách, giảm chi phí xử lý"
Hà Nội thí điểm túi rác tiêu chuẩn: "Bỏ rác đúng cách, giảm chi phí xử lý"

VOV.VN - Từ mô hình thí điểm tại phường Cửa Nam, Hà Nội, việc sử dụng túi rác tiêu chuẩn kết hợp phân loại rác tại nguồn được kỳ vọng tạo chuyển biến trong nếp sống đô thị, giảm lượng rác phải xử lý và hướng tới nguyên tắc phát sinh nhiều rác, chi trả nhiều hơn.

Hà Nội thí điểm túi rác tiêu chuẩn: "Bỏ rác đúng cách, giảm chi phí xử lý"

Hà Nội thí điểm túi rác tiêu chuẩn: "Bỏ rác đúng cách, giảm chi phí xử lý"

VOV.VN - Từ mô hình thí điểm tại phường Cửa Nam, Hà Nội, việc sử dụng túi rác tiêu chuẩn kết hợp phân loại rác tại nguồn được kỳ vọng tạo chuyển biến trong nếp sống đô thị, giảm lượng rác phải xử lý và hướng tới nguyên tắc phát sinh nhiều rác, chi trả nhiều hơn.

Việt Nam chuyển từ ứng phó sang chủ động thích ứng BĐKH, thúc đẩy tăng trưởng xanh
Việt Nam chuyển từ ứng phó sang chủ động thích ứng BĐKH, thúc đẩy tăng trưởng xanh

VOV.VN - Biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức trực tiếp đối với phát triển kinh tế - xã hội, trong bối cảnh kinh tế xanh trở thành xu thế toàn cầu, chuyển đổi xanh không chỉ là giải pháp bảo vệ môi trường mà còn là động lực chiến lược để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Việt Nam chuyển từ ứng phó sang chủ động thích ứng BĐKH, thúc đẩy tăng trưởng xanh

Việt Nam chuyển từ ứng phó sang chủ động thích ứng BĐKH, thúc đẩy tăng trưởng xanh

VOV.VN - Biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức trực tiếp đối với phát triển kinh tế - xã hội, trong bối cảnh kinh tế xanh trở thành xu thế toàn cầu, chuyển đổi xanh không chỉ là giải pháp bảo vệ môi trường mà còn là động lực chiến lược để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt khoảng hơn 98%
Chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt khoảng hơn 98%

VOV.VN - Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị năm 2025 đạt 97,58%, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Trong khi đó, khu vực nông thôn mới đã đạt tới 84,22%. Đặc biệt, chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt khoảng hơn 98%.

Chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt khoảng hơn 98%

Chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt khoảng hơn 98%

VOV.VN - Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị năm 2025 đạt 97,58%, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Trong khi đó, khu vực nông thôn mới đã đạt tới 84,22%. Đặc biệt, chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt khoảng hơn 98%.