Từ ngành đào tạo đến chương trình đào tạo: Cần đổi tư duy quản trị
VOV.VN - Doanh nghiệp cần những nhân sự liên ngành, nhưng các trường đại học đang phải loay hoay "gọt chân cho vừa giày" để nhét chương trình mới vào những mã ngành đóng kín. Đã đến lúc cần dứt khoát bỏ tư duy "tiền kiểm" bằng danh mục, trả lại không gian tự chủ thực chất để giáo dục bắt kịp nhịp đập của thị trường.
Sự vận động rất nhanh của nền kinh tế tri thức đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc của thị trường lao động. Những ranh giới từng khá rạch ròi giữa các lĩnh vực kinh tế truyền thống đang dần mờ đi, nhường chỗ cho sự giao thoa, tích hợp và hội tụ.
Trong bối cảnh đó, việc cơ quan quản lý nhà nước vẫn chủ yếu điều hành hệ thống GDĐH và GDNN dựa trên một Danh mục ngành đào tạo tương đối khép kín đang bộc lộ nhiều bất cập. Sự bất cập này không chỉ nằm ở độ trễ của chính sách mà còn bắt nguồn từ một cách tiếp cận quản lý mang đậm dấu ấn của thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung. Đã đến lúc cần dứt khoát chuyển mạnh từ tư duy quản lý theo “ngành đào tạo” sang quản lý theo “chương trình đào tạo”, qua đó cởi trói và mở rộng không gian tự chủ thực chất cho các cơ sở giáo dục.
Nút thắt mã ngành
Danh mục ngành đào tạo vốn là sản phẩm của một mô hình quản lý cũ, khi Nhà nước phân bổ nguồn lực, giao chỉ tiêu và tổ chức hệ thống theo những nhóm tương đối ổn định. Trong bối cảnh đó, việc chia thành các “ô” ngành học từng có tác dụng. Nhưng khi kinh tế vận động nhanh theo công nghệ, thị trường và các chuỗi giá trị mới, công cụ phân loại này dần bị đẩy vượt quá chức năng ban đầu.
Đáng lẽ chủ yếu phục vụ thống kê, chuẩn hóa dữ liệu và theo dõi xu hướng, danh mục ngành đào tạo lại bị sử dụng như một công cụ hành chính để ràng buộc hoạt động học thuật. Vì thế, khi các trường muốn thiết kế chương trình liên ngành để đáp ứng nhu cầu nhân lực mới, họ vẫn phải loay hoay gọt chương trình cho vừa một mã ngành có sẵn, mất nhiều thời gian chạy thủ tục hơn là tập trung đổi mới đào tạo. Đến lúc ấy, mã ngành không còn là công cụ quản lý nữa, mà thành một chiếc “vòng kim cô” trói cả tư duy đào tạo lẫn khả năng thích ứng của nhà trường.
Phá vỡ ranh giới: Bài học từ Đại học bang Arizona Hoa Kỳ (Arizona State University)
Giải pháp cốt lõi cho điểm nghẽn này là chuyển trọng tâm sang khái niệm “chương trình đào tạo”. Nếu “ngành” chủ yếu mang tính phân loại, thì “chương trình” gắn trực tiếp với chuẩn đầu ra, năng lực người học và nhịp đập của thị trường. Lấy ví dụ từ sự thành công của Đại học Arizona State (ASU - Mỹ) trong việc đỏi mới phá vỡ cấu trúc khoa xơ cứng: với cách tiếp cận theo chương trình, các trường có thể linh hoạt thiết kế dưới dạng module, cho phép chuyên gia các khoa (school) cùng doanh nghiệp kết nối tức thời các chương trình từ nhiều lĩnh vực để tung ra ngay những chương trình mới.
Cần nhấn mạnh, tích hợp ở đây là việc hai hay nhiều ngành học lồng ghép sâu vào nhau để kiến tạo nên những năng lực cốt lõi mới - như tài chính công nghệ (Fintech) hay quản trị rủi ro không gian mạng - chứ hoàn toàn không phải là kiểu gắp vài tín chỉ của khoa này ghép cơ học với khoa kia để lách luật "đẻ" ra chương trình mới. Quá trình đào tạo khi đó phá vỡ ranh giới học thuật truyền thống, hướng thẳng mũi nhọn vào việc giải quyết các bài toán thực tiễn liên ngành. Cách tiếp cận này cũng là tiền đề tất yếu để tương thích với xu hướng học tập suốt đời, tích lũy tín chỉ và các chứng chỉ vi mô (micro-credential) đang định hình lại diện mạo giáo dục toàn cầu.
Thống kê phải đi sau thực tiễn
Để hiện thực hóa bước chuyển này, cơ quan quản lý cần định vị lại vai trò: công tác thống kê, phân loại phải đi sau để phản ánh thực tiễn, thay vì đi trước để làm khuôn đúc ép buộc thực tiễn. Nếu Nhà nước cứ đưa ra một khung quá cứng và bắt các trường phải gọt chân cho vừa giày, không gian đổi mới sẽ bị bóp nghẹt. Hãy để các cơ sở giáo dục chủ động xây dựng chương trình dựa trên tín hiệu thị trường, cơ quan quản lý và thống kê mới tiến hành thu thập dữ liệu, phân loại và gắn mã để phục vụ dự báo và quản lý vĩ mô.
Soi vào thực tiễn pháp lý, Luật Giáo dục đại học mới nhất đã có bước tiến khi đề cao vai trò của “chương trình đào tạo”. Tuy vậy, tư duy quản trị vẫn chưa thật sự dứt khoát. Việc các văn bản hướng dẫn tiếp tục nhấn mạnh “chuẩn chương trình theo ngành” hoặc “liên thông theo ngành...” cho thấy logic quản lý cũ vẫn còn ảnh hưởng nặng nề. Nếu các văn bản dưới luật tiếp tục thiên về khung chuẩn ngành cứng nhắc, các chương trình liên ngành, đổi mới sẽ lại phải co mình cho khớp với khuôn mẫu có sẵn. Đây là rào cản cần tiếp tục được rà soát thấu đáo để quyền tự chủ đại học không chỉ nằm trên giấy.
Việc chuyển từ quản lý theo “Danh mục ngành đào tạo” sang quản lý theo “Chương trình đào tạo” vì thế không chỉ là thay đổi một thuật ngữ hành chính. Đó là một bước đổi mới mạnh trong tư duy quản trị: dứt khoát từ bỏ thói quen tiền kiểm để chuyển hẳn sang hậu kiểm, đề cao kiểm định chất lượng và trách nhiệm giải trình. Chỉ khi đó, hệ thống giáo dục mới thực sự được cởi trói, đủ linh hoạt và sức sáng tạo để kiến tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho một nền kinh tế luôn biến đổi không ngừng.