Chủ động nguồn cung Ethanol cho phối trộn xăng sinh học E10
VOV.VN - Các doanh nghiệp sản xuất Ethanol cần tăng cường liên kết giữa các nhà máy, đầu mối kinh doanh xăng dầu, đơn vị phối trộn và địa phương nhằm bảo đảm nguồn cung xăng sinh học lâu dài cho thị trường.
Để thị trường xăng sinh học phát triển bền vững, đảm bảo nguồn cung Ethanol nhiên liệu phục vụ pha chế xăng E10, các DN sản xuất trong nước không chỉ tập trung nâng công suất, còn rà soát toàn diện năng lực sản xuất, xây dựng chuỗi cung ứng Ethanol ổn định từ vùng nguyên liệu, sản xuất, logistics đến tiêu thụ.
Ethanol nhập khẩu giữ vai trò chủ đạo
Hiện cả nước có 3 nhà máy sản xuất Ethanol cho phối trộn xăng sinh học E5, E10, gồm nhà máy Cồn Quảng Nam, Cồn Đồng Nai và Nhiên liệu sinh học Dung Quất với tổng công suất vận hành hiện nay 24.900 m3/tháng và khoảng 277.000 m3/năm. Do đó, Ethanol nhập khẩu tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, chiếm khoảng 78,6% trong tháng 7, nguồn cung trong nước chiếm khoảng 21,4%.
Theo ông Phạm Văn Vượng, Giám đốc Công ty CP Nhiên liệu Sinh học Dầu khí Miền Trung (BSR-BF) - đơn vị chủ quản, quản lý Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất, đơn vị đã triển khai phương án phục hồi sản xuất kinh doanh, đồng thời phối hợp với các đối tác hợp tác kinh doanh gồm Công ty Nhà xanh Việt Nam và PVChem khẩn trương bảo dưỡng, đưa Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất trở lại vận hành, nhằm đáp ứng nhu cầu Ethanol theo lộ trình áp dụng xăng E10 của Bộ Công Thương.
“Từ tháng 3/2026 đến nay, Nhà máy duy trì sản lượng từ 125-180 m³ E100/ngày, tương đương 37,9-54,5% công suất thiết kế. Việc chưa thể khai thác tối đa công suất chủ yếu do một số hạng mục công nghệ và thiết bị cần tiếp tục cải tiến, nâng cấp để đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành. Song song với quá trình phục hồi sản xuất, BSR-BF đã xây dựng chương trình đổi mới sáng tạo với 14 nhóm giải pháp nhằm tháo gỡ các nút thắt công nghệ, nâng cao công suất khả dụng, cải thiện hiệu suất lên men, gia tăng giá trị sản phẩm và phụ phẩm, tận dụng lợi thế carbon thấp, giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh”, ông Vượng cho hay.
Lãnh đạo BSR-BF cũng cho biết, theo kế hoạch, trong quý III/2026, BSR-BF sẽ chuyển đổi nguyên liệu sản xuất từ sắn sang ngô, tiếp tục nâng công suất vận hành bình quân lên 70%-80%, đồng thời thử nghiệm vận hành ở mức 125% công suất thiết kế sau khi các điều kiện kỹ thuật được đáp ứng. Xa hơn, DN đặt mục tiêu nâng công suất khả dụng lên 150%, qua đó gia tăng doanh thu, rút ngắn thời gian trả nợ, sớm phục hồi vốn chủ sở hữu và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.
Sang quý IV/2026, BSR-BF tiếp tục triển khai các giải pháp nâng công suất khả dụng, đồng thời hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và đối tác công nghệ để mở rộng chuỗi giá trị từ nhà máy, nghiên cứu sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) theo công nghệ Ethanol-to-Jet (ETJ) cùng Methanol Carbon thấp từ nguồn CO₂ sinh học.
Trong 7 tháng năm 2026, Tổng Công ty Lọc hoá dầu Việt Nam (BSR) đã vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất ở mức bình quân 124% công suất thiết kế, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường xăng dầu trong nước. Ông Nguyễn Việt Thắng, Tổng Giám đốc BSR thông tin, việc Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất từng bước nâng công suất, sẽ giúp BSR chủ động hơn về nguồn Ethanol trong nước, giảm dần phụ thuộc nhập khẩu, tối ưu chi phí phối trộn và giữ nguồn cung xăng E10 ổn định khi lộ trình áp dụng được triển khai trên phạm vi toàn quốc. BSR cam kết tiếp tục phối hợp chặt chẽ với BSR-BF, các đơn vị trong hệ sinh thái Petrovietnam cùng các đối tác để hoàn thiện chuỗi cung ứng nhiên liệu sinh học.
Tuy nhiên, ông Thắng kiến nghị cần có cơ chế tài chính phù hợp, tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn phục vụ sản xuất, ưu tiên sử dụng Ethanol sản xuất trong nước; đồng thời đề nghị BSR, PVOIL cùng các đơn vị liên quan ký hợp đồng bao tiêu dài hạn, có cơ chế thanh toán trước theo quý phù hợp với công suất khả dụng của nhà máy.
Xây dựng hành lang pháp lý thuận lợi
Ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam cho rằng, Ethanol không đơn thuần là một ngành công nghiệp chế biến như nhiều ngành khác, còn là ngành gắn trực tiếp với an ninh năng lượng quốc gia. Từ góc nhìn đó, ông Tuấn đề nghị xem xét hạn chế xuất khẩu sắn lát khô để chuyển sang các sản phẩm chế biến sâu, qua đó giữ nguồn nguyên liệu cho sản xuất ethanol trong nước.
Việc đưa xăng sinh học E10 vào sử dụng trên phạm vi toàn quốc góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường. Việc các DN sản xuất nhiên liệu sinh học duy trì hoạt động, từng bước khôi phục và nâng cao công suất, gia tăng sản lượng, mở rộng thị phần Ethanol trong nước. Từ đó cho thấy ngành nhiên liệu sinh học đang có tín hiệu tích cực, tạo tiền đề quan trọng để đáp ứng nhu cầu phối trộn xăng sinh học theo lộ trình của Chính phủ, thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh.
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết, Bộ Công Thương sẽ tổng hợp đầy đủ các kiến nghị để phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, xử lý, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN phát triển sản xuất Ethanol trong báo cáo đánh giá sau 2 tháng đưa xăng E10 vào thị trường tới đây.
“Trên cơ sở tổng hợp ý kiến từ DN và địa phương, Bộ Công Thương sẽ nghiên cứu tổ chức hội thảo chuyên đề, để thống nhất giải pháp, đồng thời tham mưu xây dựng hành lang pháp lý thuận lợi, tạo động lực thu hút đầu tư, phát triển vùng nguyên liệu, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao sức cạnh tranh của nhiên liệu sinh học trong nước, góp phần thực hiện mục tiêu chuyển dịch năng lượng, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia”, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân khẳng định.