Khi siêu đô thị TP.HCM tháo gỡ điểm nghẽn lớn về thể chế
VOV.VN - Trong hơn 50 năm xây dựng và phát triển, TP.HCM đã vươn lên từ quy mô “chiếc áo” thể chế cũ không còn vừa, quyết định nhanh những vấn đề thuộc yêu cầu phát triển của một đô thị đặc biệt.
Đầu tàu vẫn đang thiếu lực đẩy
Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986, kinh tế TP.HCM từng bước phục hồi và tăng tốc. Giai đoạn 1986 - 1990 tăng trưởng bình quân 7,82%/năm tạo nền tảng, sau đó kinh tế thành phố tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 1991 - 2010, riêng giai đoạn 1991 - 1995 đạt hơn 12%.
Đây là thời kỳ TP.HCM phát huy mạnh mẽ vai trò đầu tàu kinh tế, đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thu hút đầu tư nước ngoài và chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao, qua đó khẳng định vị thế là một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước.
Tuy nhiên, TP.HCM bắt đầu tăng trưởng chậm lại, bình quân 6,86% giai đoạn 2011–2020. Đại dịch Covid-19 tiếp tục tạo cú sốc lớn, khiến năm 2021 TP.HCM tăng trưởng âm, trước khi phục hồi mạnh mẽ trong những năm tiếp theo. Năm 2025, kinh tế Thành phố đạt tốc độ tăng trưởng 7,53%, đóng góp khoảng 23% GDP và gần 30% tổng thu ngân sách quốc gia.
Trong bối cảnh mới, sau ngày 1/7/2025, TP.HCM đối mặt với nhiều điểm nghẽn khi quy mô kinh tế ngày càng lớn nhưng khung thể chế và mô hình quản trị chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Cơ chế quản lý còn mang tính “đồng phục” với các địa phương, chưa phản ánh đầy đủ đặc thù của một siêu đô thị.
PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách, Đại học Quốc gia TP.HCM nhận định, tốc độ tăng trưởng của TP.HCM chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và quy mô, chỉ xếp thứ 21 trên phạm vi cả nước và thứ 5 trong nhóm các thành phố trực thuộc Trung ương. Điều này cho thấy dư địa phát triển của thành phố chưa được khai thác đầy đủ.
"Chúng ta phải thừa nhận thời gian qua các cơ chế đặc thù đã tạo điều kiện cho TP.HCM phát triển và đạt được nhiều thành tựu. Nhưng nếu nhìn thẳng những cơ chế đặc thù này chưa phù hợp trong bối cảnh mới hiện nay. Đặc biệt là bối cảnh khi 3 địa phương sáp nhập thành siêu đô thị. Nếu chúng ta định vị đúng sẽ sẽ xác lập mô hình phát triển phù hợp trong kỷ nguyên mới, quy hoạch không gian phát triển tương thích và kiến tạo một thể chế phù hợp", PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình nói.
Trung ương cũng chỉ ra 4 điểm nghẽn lớn của TP.HCM gồm thể chế, hạ tầng, nguồn lực phát triển và quản trị đô thị. Trong đó, thể chế được xem là điểm nghẽn lớn nhất, nếu tháo gỡ sẽ góp phần giải quyết các vấn đề còn lại.
Hành trình tìm kiếm một cơ chế phù hợp với TP.HCM không phải câu chuyện mới. Các Nghị quyết 54, 98 hay 260, 288… dù giải quyết nhiều vấn đề nhưng vẫn mang tính “thí điểm”, có thời hạn và giới hạn nhất định, trong khi một đô thị lớn cần khung pháp lý ổn định, có tầm nhìn dài hạn. Trong quá trình thực hiện, TP vẫn phải xin ý kiến nhiều bộ, ngành, khiến một số quyết định chậm hơn yêu cầu thực tiễn.
Cởi trói thể chế để tăng tốc phát triển
Ngày 19/5/2026 có thể được xem là một bước ngoặt khi Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.HCM trong kỷ nguyên mới ra đời. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển, với kỳ vọng TP.HHCM không chỉ tiếp tục là đầu tàu mà còn trở thành cực tăng trưởng, cực đổi mới sáng tạo và vươn tầm các đô thị lớn trên thế giới.
Trao đổi với phóng viên VOV, PGS.TS Trần Hoàng Ngân, Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đột phá phát triển Trường Đại học Sài Gòn khẳng định, Nghị quyết 09 nhìn nhận rõ hơn vị trí, trọng trách mới của TP.HCM; đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng thể chế đột phá, vượt trội, phân cấp, phân quyền mạnh mẽ để Thành phố chủ động quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền.
Theo ông Ngân, nếu trước đây các nghị quyết đặc thù giúp thành phố “cởi trói” từng phần, Luật Phát triển đô thị được kỳ vọng tạo nền tảng pháp lý ổn định hơn, giúp thành phố không phải liên tục “xin” từng cơ chế mà có thể chủ động vận hành trong một không gian pháp lý rõ ràng.
Một thể chế tốt không chỉ giúp chính quyền quyết nhanh hơn mà còn tạo môi trường khơi thông nguồn lực xã hội. Khi có khung pháp lý phù hợp, các động lực tăng trưởng mới sẽ được phát huy như công nghiệp công nghệ cao, thương mại – dịch vụ, công nghiệp văn hóa, logistics, kinh tế biển, trung tâm tài chính quốc tế cùng hệ thống dịch vụ chất lượng cao trong y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ và các ngành kinh tế hiện đại.
PGS.TS Trần Hoàng Ngân cho rằng, nếu các trụ cột này cùng được tạo điều kiện phát triển, mục tiêu tăng trưởng ở mức 10% trong thời gian dài là khả thi. TP.HCM không thiếu tiềm năng, lợi thế hay khát vọng phát triển; điều cần là một thể chế tương thích để biến những lợi thế đó thành động lực tăng trưởng thực tế.
"Nghị quyết đã nhìn nhận đúng vị trí trọng trách của thành phố trong kỷ nguyên mới này và đánh giá rất là sát sao những điểm nghẽn của thành phố mà lâu nay đã được chỉ ra. Đồng thời có giải pháp để tháo gỡ điểm nghẽn đó. Cho nên tôi rất kỳ vọng Nghị quyết 09 sẽ mở đường cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, đặc biệt là trong việc quản lý đô thị cũng như là luật sẽ tương thích được với đặc điểm kinh tế xã hội của từng địa phương, từng khu vực. Và nó sẽ giúp phát huy được tiềm năng, lợi thế của từng địa phương đó, từng khu vực đó", PGS.TS Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh.
TS. Trần Du Lịch cũng nhìn nhận, sau khi hợp nhất ba địa phương năng động, TP.HCM mới sẽ phát huy hiệu quả theo công thức “1 + 1 + 1 > 3”, nhất là khi có các cơ chế từ Luật Phát triển đô thị. Đặc biệt, TP.HCM cần phát huy vai trò đầu tàu trong mục tiêu tăng trưởng hai con số, qua đó giúp Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
"Việt Nam không đạt tăng trưởng hai con số trong 10-15 năm tới trước khi dân số già sẽ không bao giờ còn cơ hội thoát bẫy thu nhập trung bình. Đây là sứ mệnh và TP.HCM đi đầu trong sứ mệnh này. Chính vì vậy đòi hỏi TP.HCM cần đổi mới mô hình tăng trưởng, từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn sang tăng trưởng dựa vào tri thức, nâng cao đóng góp của năng suất sáng tạo, từng bước trở thành trung tâm tài chính, công nghệ và khởi nghiệp của Đông Nam Á", ông Lịch nói.
Hiện Luật Phát triển đô thị đang được các cấp, các ngành Trung ương và TP.HCM khẩn trương hoàn thiện để trình Quốc hội thông qua. Khi đó, TP.HCM sẽ có một “chiếc áo” thể chế mới, không chỉ đủ rộng cho hôm nay mà còn đủ tầm nhìn cho nhiều thập kỷ tới. Khi thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh thay vì điểm nghẽn, TP.HCM sẽ có thêm điều kiện tăng tốc, phát triển bền vững và tiếp tục giữ vai trò đầu tàu, dẫn dắt sự phát triển của cả nước.
6 nhiệm vụ trọng tâm của TP.HCM
Tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), diễn ra ngày 2/7 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, nói đến TP.HCM là nói đến một vùng đất giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, nghĩa tình và sáng tạo; một vùng đất luôn biết kết tinh những giá trị cao đẹp của dân tộc, đồng thời không ngừng mở đường cho những khát vọng mới.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, sau sắp xếp đơn vị hành chính, không gian phát triển của Thành phố đã mở rộng; quy mô lớn hơn, tiềm năng lớn hơn, yêu cầu quản trị cũng cao hơn. TP.HCM mới hội tụ những lợi thế rất quan trọng: trung tâm đô thị, tài chính, thương mại, dịch vụ; không gian công nghiệp, công nghệ, đổi mới sáng tạo; cửa ngõ cảng biển, logistics, kinh tế biển, du lịch, năng lượng; cùng nguồn nhân lực đông đảo có trí thức, có trách nhiệm, có nghĩa tình.
“Chúng ta phải xây dựng TP.HCM thành một siêu đô thị chiến lược, đa trung tâm, đa cực, có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế.”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thành phố tập trung thực hiện thật tốt 6 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, tiếp tục xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị Thành phố trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, kỷ cương, liêm chính, hành động, phục vụ Nhân dân. Cán bộ Thành phố phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy phát triển hiện đại, đạo đức trong sáng, năng lực thực thi cao; đề cao trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm người đứng đầu; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đồng thời bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Thứ hai, chuyển hóa thể chế và cơ chế đặc thù thành lợi thế phát triển, năng lực cạnh tranh và kết quả cụ thể, có thể đo đếm được: công trình hoàn thành, sản phẩm mới, dịch vụ công tốt hơn, việc làm nhiều hơn, môi trường đầu tư thuận lợi hơn và chất lượng sống cao hơn cho Nhân dân. Thành phố cần đi đầu trong cải cách hành chính, quản trị số, dữ liệu liên thông, dịch vụ công minh bạch; chủ động đề xuất cơ chế vượt trội về đô thị đặc biệt, trung tâm tài chính quốc tế, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và thu hút nhân tài.
Thứ ba, quy hoạch không gian phát triển theo hướng đa trung tâm, hiện đại, xanh, thông minh, kết nối chặt chẽ với vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, cả nước và quốc tế. Hạ tầng phải đi trước một bước, nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm hiệu quả đầu tư; ưu tiên giao thông công cộng, đường sắt đô thị, vành đai, cao tốc, cảng biển, logistics, hạ tầng số, năng lượng, y tế, giáo dục, văn hóa, nhà ở, chống ngập và không gian xanh.
Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế dữ liệu làm động lực chủ yếu. Thành phố cần phát triển mạnh trung tâm tài chính quốc tế, công nghiệp công nghệ cao, logistics, kinh tế biển, du lịch, y tế, giáo dục, công nghiệp văn hóa; tạo môi trường để doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển, người trẻ được sáng tạo và cống hiến.
Thứ năm, chăm lo tốt hơn đời sống Nhân dân, coi đây là mục tiêu cao nhất và thước đo thực chất nhất của phát triển. Người dân Thành phố phải được thụ hưởng môi trường sống an toàn hơn, giao thông thuận tiện hơn, nhà ở phù hợp hơn, trường học tốt hơn, bệnh viện tốt hơn, không gian văn hóa nhiều hơn, không gian xanh rộng hơn. Người lao động, công nhân, người nhập cư, người nghèo đô thị, người yếu thế phải được quan tâm bằng chính sách cụ thể, thiết thực và đến đúng đối tượng.
Thứ sáu, xây dựng TP.HCM thành trung tâm hội nhập quốc tế năng động, có bản sắc, có trách nhiệm; đồng thời giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh đô thị, an ninh con người. Thành phố càng mở cửa, càng hội nhập, càng phải giữ vững ổn định chính trị, kỷ cương pháp luật, môi trường hòa bình, an toàn, thân thiện.