Ninh Bình xây dựng trục kinh tế - sinh thái biển kết nối với Quy hoạch Thủ đô
VOV.VN - Tại Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm (QĐ 5212), Hà Nội xác lập hành lang vươn biển lấy sông Hồng làm trục cảnh quan. Đồng bộ định hướng này, Ninh Bình phát triển kinh tế biển theo hướng liên kết vùng, hình thành trục kinh tế sinh thái kết nối không gian Bắc Bộ.
Hình thành hành lang kinh tế biển liên vùng Đồng bằng sông Hồng
Trong bối cảnh Quy hoạch Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm vừa được thông qua, không gian phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ. Trọng tâm là hình thành trục cảnh quan – sinh thái sông Hồng và mở rộng không gian phát triển hướng ra biển. Đây được xem là sự chuyển đổi quan trọng trong tư duy phát triển vùng, từ mô hình “đô thị trung tâm” sang “liên kết đa cực, đa hành lang”.
Theo định hướng mới, sông Hồng không chỉ là trục cảnh quan trung tâm của Hà Nội mà còn là nền tảng kết nối hệ thống hành lang kinh tế biển Hà Nội - Hưng Yên Ninh Bình - Hải Phòng – Quảng Ninh. Tuyến liên kết này tạo không gian phát triển liên hoàn giữa đô thị trung tâm, vùng đồng bằng và khu vực ven biển, mở rộng dư địa cho công nghiệp, dịch vụ và logistics.
Ông Trần Anh Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình cho biết việc hình thành hành lang kinh tế biển là bước đột phá quan trọng, lần đầu tiên thiết lập trục kết nối trực tiếp từ Thủ đô ra biển. Đây là nền tảng chiến lược để mở rộng không gian phát triển, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế toàn vùng Đồng bằng sông Hồng.
Trên cơ sở liên kết vùng, Ninh Bình xác định phát triển trục kinh tế sinh thái biển gắn với Quy hoạch Thủ đô, coi kinh tế biển là động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ hiện đại, bền vững.
Theo đó, tỉnh ưu tiên phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp đa ngành gắn với cảng biển nước sâu và trung tâm logistics; đồng thời phát triển đô thị ven biển, du lịch biển, nuôi trồng và khai thác thủy sản gắn với chế biến sâu, nhằm nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho người dân.
Định hướng phát triển kinh tế biển được xác lập theo hướng hiện đại, đa ngành nhưng có chọn lọc, ưu tiên lĩnh vực giá trị cao, ứng dụng khoa học, công nghệ và thân thiện môi trường. Việc khai thác tài nguyên biển phải đi đôi với bảo đảm bền vững và bảo vệ hệ sinh thái ven biển.
Song song, công tác bảo vệ môi trường được coi là yêu cầu xuyên suốt, tập trung bảo tồn rừng ngập mặn, đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng biến đổi khí hậu. Không gian biển cũng được nghiên cứu khai thác hợp lý, có thể bao gồm lấn biển theo quy hoạch, gắn với hệ thống đê, kè và công trình phòng chống thiên tai.
Mục tiêu đến năm 2030, vùng ven biển Ninh Bình trở thành cực tăng trưởng quan trọng của tỉnh, tăng trưởng kinh tế biển trên 11%/năm, tỷ trọng trên 20% GRDP, đô thị hóa trên 50%, hạ tầng cơ bản hoàn thiện và đời sống người dân được nâng cao.
Tầm nhìn đến năm 2045, khu vực ven biển Ninh Bình trở thành trung tâm kinh tế, đô thị và logistics biển của Bắc Bộ, hạ tầng đồng bộ, kết nối liên vùng và phát triển bền vững trong bối cảnh đô thị hóa và thích ứng biến đổi khí hậu.
Quy hoạch hạ tầng và chuỗi đô thị - công nghiệp biển
Để thúc đẩy hình thành hành lang kinh tế hướng biển liên vùng, ông Trần Anh Dũng cho biết, khu kinh tế Ninh Cơ được xác định là một trong những động lực phát triển quan trọng của vùng ven biển, hướng tới trở thành khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, hiện đại, gắn với công nghiệp, logistics, cảng biển và đô thị ven biển.
Đến năm 2030, trọng tâm là hoàn thiện quy hoạch, hạ tầng và thu hút các dự án công nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao, thân thiện môi trường. Nhiều dự án then chốt được triển khai như các nhà máy thép xanh, cấu kiện bê tông, đóng tàu, thiết bị điện gió, sản xuất ô tô chuyên dùng cùng hệ thống cảng nội địa, cấp nước và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, tạo nền tảng hình thành chuỗi công nghiệp – dịch vụ – đô thị ven biển.
Đến năm 2045, khu kinh tế này sẽ được mở rộng quy mô lớn, phát triển mạnh cảng biển nước sâu, logistics quốc tế, năng lượng xanh và các trung tâm công nghiệp hiện đại, kết nối chặt chẽ với các hành lang kinh tế ven biển Bắc Bộ.
Song song với đó, hệ thống khu công nghiệp ven biển được phát triển theo hướng xanh và bền vững. Các khu công nghiệp hiện hữu được nâng cấp, mở rộng, đồng thời hình thành mới nhiều khu công nghiệp gắn với cảng biển và đô thị. Đến năm 2030, tập trung lấp đầy KCN Rạng Đông, phát triển KCN Hải Long (VSIP) thành trung tâm công nghiệp – logistics quan trọng, đồng thời triển khai thêm các khu công nghiệp ven biển mới. Đến năm 2045, hình thành mạng lưới khu công nghiệp hiện đại, liên kết chặt chẽ với hệ thống cảng biển và đô thị.
Phát triển đô thị ven biển được xác định là hướng đi chiến lược, với mục tiêu hình thành chuỗi 6 - 8 đô thị ven biển hiện đại, kết hợp du lịch sinh thái, dịch vụ và công nghiệp. Các khu du lịch nghỉ dưỡng, đô thị lấn biển, sân golf và dịch vụ biển được thu hút đầu tư mạnh, tạo không gian phát triển mới. Định hướng đến năm 2045, nghiên cứu hình thành khu đô thị du lịch sinh thái biển quy mô khoảng 28.660 ha (sau lấn biển) tạo động lực phát triển mới cho khu vực ven biển của tỉnh.
Hạ tầng giao thông được ưu tiên đầu tư đồng bộ, kết nối Khu kinh tế Ninh Cơ với các tuyến cao tốc, cảng biển, sân bay và đường sắt. Các tuyến đường ven biển, đường kết nối khu công nghiệp và đô thị được mở rộng, đồng thời nghiên cứu phát triển đường sắt ven biển và mô hình đô thị TOD, tạo mạng lưới giao thông đa phương thức hiện đại đến năm 2045.
Bên cạnh đó, phát triển nông nghiệp ven biển theo hướng sinh thái, hữu cơ, công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn, gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu; kết hợp phát triển du lịch sinh thái và nông nghiệp ven biển gắn với các vùng nuôi trồng thủy sản, khu du lịch và khu bảo tồn thiên nhiên. Tăng cường liên kết với hệ thống logistics, cảng cá và các khu công nghiệp chế biến ven biển, tạo chuỗi giá trị khép kín, hiệu quả.
Phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản và công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp gắn với hệ thống kho lạnh, bảo quản và logistics tại khu vực ven biển; thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị từ sản xuất, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.
Phát triển các chuỗi giá trị thủy sản chất lượng cao như nuôi tôm công nghệ cao, tôm siêu thâm canh, nuôi ngao đạt chứng nhận ASC, nuôi hàu và nhuyễn thể có giá trị kinh tế lớn. Hình thành trung tâm sản xuất giống nhuyễn thể quy mô quốc gia, đáp ứng nhu cầu giống cho đồng bằng sông Hồng và các tỉnh ven biển. Triển khai các dự án hạ tầng phục vụ nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch, trọng tâm là vùng nuôi Giao Thủy và vùng sản xuất giống hàu, thủy sản Kim Sơn do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì.