Đưa nông sản Việt ra thế giới: Từ hội nhập đến xây dựng thương hiệu quốc gia
VOV.VN - Việc liên tiếp có thêm các lô gạo thơm Việt Nam được cấp chứng nhận xuất khẩu vào Liên minh châu Âu (EU) phản ánh năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của một thị trường hàng đầu thế giới và hiệu quả bước đầu của chủ trương hội nhập quốc tế gắn với nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đến thời điểm này, Việt Nam có 9 giống gạo thơm được cấp chứng nhận chủng loại để hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam- EU (EVFTA). Trong bối cảnh châu Âu liên tục siết chặt các tiêu chuẩn về môi trường, truy xuất nguồn gốc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phát triển bền vững, việc gạo thơm Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng ổn định cho thấy năng lực thích ứng ngày càng cao của doanh nghiệp và ngành nông nghiệp Việt Nam.
Tham tán Nông nghiệp Việt Nam tại Liên minh châu Âu Trần Văn Công cho biết: “EU là thị trường có những quy định cực kỳ khắt khe, do đó khi chúng ta đã thâm nhập được vào đây, điều đó chứng minh rằng sản phẩm của Việt Nam có thể vào bất kỳ thị trường khó tính nào khác trên thế giới. Tiềm năng nông sản Việt Nam có khả năng thích ứng rất cao. Chúng ta là một trong số ít nước nhiệt đới hài hòa được cả sản lượng, nỗ lực chuyển đổi số và chuyển đổi xanh”.
Đằng sau những kết quả đó là quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những động lực quan trọng cho phát triển đất nước. Từ Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới tới chiến lược phát triển xuất nhập khẩu quốc gia, tư duy hội nhập đang chuyển mạnh từ “tham gia thị trường” sang chủ động nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Trong lĩnh vực nông nghiệp, điều này đồng nghĩa với việc không chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế mà còn từng bước xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn cho nông sản Việt Nam.
Sau khi EVFTA có hiệu lực, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản sang EU đạt bình quân khoảng 11,5% mỗi năm; riêng năm 2025 tăng hơn 35% so với năm trước. Tuy nhiên, hiện phần lớn nông sản Việt Nam vẫn xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu hoặc sơ chế, trong khi tỷ trọng hàng chế biến sâu còn thấp.
Tham tán Nông nghiệp Việt Nam tại Liên minh châu Âu Trần Văn Công cho biết: “Nhóm sản phẩm thô vẫn chiếm tỷ trọng chính, trong khi nhóm sản phẩm chế biến sâu còn ở ngưỡng thấp. Các vấn đề về truy xuất nguồn gốc đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện. Đặc biệt, việc xây dựng thương hiệu và vị trí của chúng ta trong chuỗi giá trị toàn cầu vẫn chưa cao; chúng ta chủ yếu vẫn đang ở phần cung cấp nguyên liệu và sơ chế".
Thực tế cho thấy, thị trường EU hiện không chỉ đòi hỏi chất lượng sản phẩm mà còn đặt ra yêu cầu ngày càng cao về phát triển xanh, giảm phát thải và trách nhiệm xã hội. Điều này buộc doanh nghiệp phải thay đổi tư duy từ “tuân thủ” sang chủ động kiến tạo giá trị nếu muốn trụ vững tại thị trường châu Âu.
Theo nhận định của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam tại châu Âu, hạn chế lớn của nhiều doanh nghiệp trong nước hiện nay vẫn là tư duy “bán cái mình có thay vì bán cái thị trường cần”. Không ít sản phẩm dù có chất lượng tốt nhưng vẫn xuất khẩu dưới dạng thô, bao bì đơn giản, thiếu câu chuyện thương hiệu và chưa hình thành được tính liên kết chuỗi bền vững. Thực tế này từng bộc lộ rõ trong quá trình đưa vải thiều tươi vào thị trường Đức năm 2021. Chủ tịch Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam tại châu Âu Trần Hà My cho rằng:
Châu Âu là một thị trường khá đặc thù với các quy định về "rào cản mềm" và khẩu vị người tiêu dùng rất khác biệt. Ví dụ năm 2021, khi doanh nghiệp trong nước muốn đưa vải thiều tươi sang Đức, logistics của người Việt ở đây là thông tin quan trọng giúp hàng vải vào được thị trường. Nếu không có hệ thống kho lạnh phân phối ngay tại sân bay Frankfurt và chứng nhận Global GAP đầy đủ thì lô hàng sẽ bị trả về ngay lập tức vì chênh lệch nhiệt độ và kiểm dịch.
Một ví dụ khác là câu chuyện cà phê đặc sản Việt Nam. Hiện nước ta đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu cà phê, song giá bán thường vẫn thấp hơn Brazil hay Colombia. Trước thực tế này, một số doanh nghiệp trẻ tại Buôn Ma Thuột đã xây dựng vùng trồng đạt chuẩn Rainforest Alliance, đầu tư chế biến ướt và kể câu chuyện văn hóa người Ê-đê. Nhờ đó, sản phẩm có thể bán với giá 25-30 Euro/kg tại các cửa hàng cà phê đặc sản ở Berlin hay Amsterdam.
Theo Chủ tịch Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam tại châu Âu Trần Hà My, khách hàng không chỉ mua một sản phẩm, mà còn mua trải nghiệm và giá trị văn hóa đi kèm. Thương hiệu chỉ có thể tồn tại khi được bảo chứng bằng chất lượng ổn định, khả năng cung ứng lâu dài và sự minh bạch về nguồn gốc sản phẩm. Một thương hiệu mạnh nhưng giao hàng thiếu ổn định hoặc không đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật cũng khó có thể đứng vững lâu dài tại thị trường châu Âu.
“Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam tại châu Âu không đơn thuần là một cánh tay nối dài để phân phối hàng hóa Việt Nam tại thị trường bản địa, mà còn là những kiến trúc sư giúp cho sự hội nhập thực chất của hàng hóa Việt đi vào thị trường", Chủ tịch Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam tại châu Âu nhấn mạnh.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, nông sản không chỉ còn là câu chuyện mùa vụ hay xuất khẩu đơn thuần, mà đó là thước đo năng lực quản trị, trình độ phát triển và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của mỗi quốc gia.
Từ những lô gạo thơm được cấp chứng nhận vào EU tới các sản phẩm cà phê, trái cây hay thực phẩm chế biến mang thương hiệu Việt, hành trình chinh phục thị trường thế giới đang cho thấy một hướng đi ngày càng rõ nét: lấy chất lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững làm nền tảng để nâng tầm nông sản Việt, đồng thời khẳng định vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ.