Đề xuất đánh giá giá trị kinh tế 8 di sản thế giới của Việt Nam
VOV.VN - Hoàng thành Thăng Long, Phố cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn cùng nhiều di sản thế giới dự kiến được triển khai đo tổng giá trị kinh tế, qua đó cung cấp thêm dữ liệu phục vụ bảo tồn, quy hoạch, đầu tư và phát triển kinh tế di sản.
Ngày 11/9 tại Hà Nội, Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức cuộc họp xin ý kiến về Đề án “Định giá kinh tế di sản - TEV, lượng hóa giá trị kinh tế tổng thể di sản thế giới”. Cuộc họp do Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương, Trưởng ban soạn thảo Đề án, chủ trì, với sự tham dự của các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các cơ quan, đơn vị liên quan.
Theo dự thảo, 8 đề án thành phần dự kiến được triển khai tại Hoàng thành Thăng Long; Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà; Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc; Thành nhà Hồ; Phong Nha - Kẻ Bàng; Cố đô Huế; Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn.
Việc lựa chọn các địa điểm này nhằm kiểm nghiệm khả năng áp dụng khung Tổng giá trị kinh tế (TEV) đối với những loại hình và cấu trúc di sản khác nhau, từ di sản văn hóa, thiên nhiên đến những hệ thống di sản có tính phức hợp cao.
Theo Cục Di sản Văn hóa, Việt Nam hiện có 9 di sản thế giới được UNESCO công nhận. Sau hơn 30 năm quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị, các di sản đã trở thành nguồn lực đối với phát triển kinh tế - xã hội, du lịch, sinh kế cộng đồng, bảo vệ môi trường, quảng bá hình ảnh và nâng cao vị thế quốc gia.
Tuy nhiên, giá trị kinh tế của di sản hiện chủ yếu được nhìn nhận qua những chỉ số trực tiếp như lượng khách, tiền vé, doanh thu dịch vụ hay đóng góp của du lịch. Trong khi đó, nhiều giá trị khác mà di sản tạo ra cho cộng đồng và xã hội chưa được đo lường đầy đủ.
Đề án vì vậy tiếp cận di sản như một dạng vốn văn hóa, vốn tự nhiên và vốn xã hội, có khả năng tạo ra các giá trị kinh tế, xã hội, môi trường, sinh kế cộng đồng và sức mạnh mềm trong dài hạn.
Đáng chú ý, việc đo tổng giá trị kinh tế không có nghĩa quy đổi toàn bộ giá trị văn hóa hay Giá trị nổi bật toàn cầu của một di sản thành tiền.
Theo cách tiếp cận của Đề án, tổng giá trị kinh tế của mỗi di sản gồm giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Giá trị sử dụng trực tiếp có thể đến từ tham quan, du lịch, dịch vụ văn hóa - sinh thái, giáo dục, nghiên cứu, sự kiện và sinh kế cộng đồng.
Bên cạnh đó là những giá trị gián tiếp thông qua cảnh quan, môi trường, thương hiệu của địa phương, sức hấp dẫn đầu tư, giá trị bất động sản, chất lượng không gian sống và các dịch vụ hệ sinh thái. Di sản còn có giá trị dành cho tương lai, giá trị lưu truyền cho thế hệ sau, giá trị biểu tượng, bản sắc và tinh thần đối với cộng đồng.
Việc lượng hóa vì thế nhằm nhận diện rộng hơn những lợi ích mà di sản mang lại, thay vì chỉ nhìn vào doanh thu từ khách tham quan.
Hiện Việt Nam chưa có một khung phương pháp lượng giá TEV thống nhất ở cấp quốc gia đối với di sản. Một số nghiên cứu đã được thực hiện tại từng địa phương hoặc dự án nhưng còn khác nhau về phạm vi, phương pháp, dữ liệu và kỹ thuật ước lượng, gây khó khăn khi so sánh, cập nhật và đưa kết quả vào quy hoạch, đầu tư công, chiến lược du lịch hay cơ chế tài chính phục vụ bảo tồn.
Khi tổng giá trị kinh tế của di sản được nhận diện và lượng hóa, cơ quan quản lý có thể có thêm dữ liệu để phân bổ ngân sách, lựa chọn dự án đầu tư, lập quy hoạch đô thị và du lịch, xây dựng cơ chế tài chính bảo tồn, xác định mức phí và giá dịch vụ, tái đầu tư nguồn thu cũng như thiết kế cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng.
Một kinh nghiệm thực tế được đề cập là nghiên cứu lượng giá Tổng giá trị kinh tế Quần thể danh thắng Tràng An năm 2025. Kết quả cho thấy giá trị văn hóa chiếm 49,31%, giá trị tự nhiên 38,99% và hệ thống cư trú 11,71%. Kết quả này cũng cho thấy bên cạnh các giá trị tiền tệ trực tiếp từ du lịch và sinh kế, những giá trị phi thị trường và tác động lan tỏa có vai trò đáng kể.
Kết quả của Đề án dự kiến được tích hợp với các đầu mối quản lý nhà nước, cơ sở dữ liệu, bản đồ, hệ thống GIS và phân tích không gian. Qua đó, cơ quan quản lý có thể nhận diện sự phân bố của các nhóm giá trị, khu vực có giá trị bảo tồn cao, áp lực phát triển, những điểm nóng về môi trường và rủi ro, từ đó hỗ trợ xây dựng các kịch bản phát triển và xác định ưu tiên đầu tư, bảo tồn.
Việc xây dựng Đề án được thực hiện trên cơ sở nhiệm vụ đặt ra tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó có yêu cầu nghiên cứu, định giá tổng giá trị kinh tế, phát triển kinh tế di sản và từng bước hình thành mô hình “di sản dẫn dắt phát triển kinh tế”.
Theo báo cáo của Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã gửi dự thảo lấy ý kiến 48 cơ quan, tổ chức, cá nhân và nhận được 207 ý kiến góp ý cụ thể. Cơ quan soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh sửa theo 183 ý kiến, tương đương khoảng 88,5%, và giải trình 24 ý kiến còn lại.
Ngày 11/9, Ban soạn thảo và Tổ biên tập tiếp tục họp để rà soát lần cuối, hoàn thiện hồ sơ. Sau cuộc họp, Cục Di sản Văn hóa sẽ hoàn chỉnh hồ sơ, trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án, dự kiến trong tháng 10/2026.