Đổi mới bảo tàng: Công nghệ, tương tác tạo “sức sống mới” cho không gian di sản
VOV.VN - Chuyển đổi từ mô hình “trưng bày tĩnh” sang không gian trải nghiệm thực tế và chủ động tiếp cận du khách đang là chìa khóa để các bảo tàng “hút” công chúng, biến di sản thành nguồn lực, sản phẩm công nghiệp văn hóa để phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Thách thức lớn nhất của các bảo tàng, các không gian trưng bày di sản hiện nay không nằm ở việc thiếu hụt giá trị văn hóa, mà ở cách thức truyền tải. Tư duy cũ “ngắm nhìn từ xa”, “không sờ hiện vật” trong thời gian dài đã khiến bảo tàng trở nên khô khan trong mắt công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Để giải bài toán này, sự kết hợp giữa mô hình bảo tàng tương tác, số hóa tư liệu hiện vật, chiến lược chủ động tiếp cận khách hàng và đa dạng hóa hệ sinh thái dịch vụ chính là hướng đi chiến lược cho các bảo tàng.
Đột phá bằng trải nghiệm và tương tác
Giá trị lớn nhất của Bảo tàng Dân tộc học và Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Làng Văn hóa) là không gian kiến trúc ngoài trời rộng lớn. Việc chuyển đổi từ nguyên tắc “cấm chạm vào hiện vật” sang “cho phép tham gia và sáng tạo” sẽ tạo ra sức hút khác biệt cho du khách ở mọi lứa tuổi.
Tại Bảo tàng Dân tộc học, thay vì chỉ đứng nghe thuyết minh về nhà Rông hay nhà Dài, du khách được trực tiếp tham gia các buổi học làm gốm, đan guột, dệt thổ cẩm… cùng nghệ nhân trong chính những “ngôi nhà văn hóa” ấy. Trong khi đó, Làng Văn hóa có thể phát triển sản phẩm dịch vụ cho phép du khách khoác lên mình bộ trang phục dân tộc, tự tay nấu cơm lam, giã gạo và cùng hòa mình vào đêm đốt lửa trại.
“Hành trình tham quan cũng có thể được game hóa thông qua các chương trình như “Truy tìm cổ vật” hoặc phát hành “Hộ chiếu Văn hóa”. Du khách sẽ chinh phục từng trạm trải nghiệm từ đánh chiêng, múa xòe đến làm đồ chơi dân gian để tích lũy con dấu và nhận các phần quà lưu niệm. Phương pháp này biến chuyến tham quan vốn tưởng như khô khan thành một hành trình khám phá đầy hào hứng”, ông Vũ Văn Tuyên, Công ty lữ hành Travelogy nhận định sau chuyến khảo sát tại Làng Văn hóa.
Trải nghiệm thực tế không chỉ là lợi thế của những bảo tàng có lợi thế không gian ngoài trời. Với hỗ trợ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ 3D, rất nhiều sản phẩm tương tác “thực tế ảo” đã được các bảo tàng phát triển, vận hành trong thời gian qua, giúp công chúng có thêm cơ hội tương tác với tư liệu hiện vật, hòa mình vào di sản tại bảo tàng.
Các giải pháp quét 3D, QR code hay VR/AR hiện nay đều đã phổ biến và có thể triển khai với chi phí hợp lý. Nếu có chiến lược khai thác hiệu quả, nguồn lực này hoàn toàn có thể được bù đắp những thiếu hụt từ không gian trưng bày và từ sản phẩm dịch vụ. Tư duy quản lý và tổ chức thực hiện mới là điểm nghẽn lớn nhất, vấn đề nằm ở tư duy, phải lấy khách tham quan làm trung tâm. Công nghệ phải được triển khai theo hướng không chỉ “cung cấp thông tin” mà còn phải “tạo trải nghiệm”. Khi tư duy ở góc nhìn này, công nghệ sẽ bù đắp những thiếu hụt về không gian trưng bày hay hạn chế về sản phẩm dịch vụ tại các bảo tàng hiện nay”, ThS Lương Việt Anh, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam tỉnh Thái Nguyên chia sẻ.
Khi ứng dụng công nghệ AI, in 3D và 3D Mapping trong trình bày, trưng bày của bảo tàng, kết hợp cùng hệ thống audio guide, những câu chuyện, hiện vật đến với công chúng với nhiều hơn những trải nghiệm cá nhân. Chúng tôi tối ưu hóa các trải nghiệm cá nhân dành cho du khách bên cạnh việc là hướng dẫn viên bảo tàng thuyết minh trực tiếp. Workshop cũng là một hoạt động mới có tính tương tác trực tiếp của bảo tàng mang lại trải nghiệm mới cho công chúng, du khách”, bà Lê Cẩm Nhung, trưởng phòng truyền thông Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam chia sẻ.
Tối ưu hóa giá trị từ không gian trải nghiệm
Sự chủ động trong việc thiết kế sản phẩm dịch vụ mới, phù hợp với nhu cầu của công chúng và du khách không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ tại bảo tàng, đa dạng sản phẩm du lịch mà còn mang lại nguồn thu tự chủ bền vững cho các đơn vị bảo tồn.
“Đặc biệt khi trải nghiệm bảo tàng thông qua các trò chơi tương tác, trò chuyện với hiện vật qua công nghệ AI, trải nghiệm quá trình in 3D để tái tạo hiện vật và “chạm” vào công nghệ để tìm hiểu thông tin, tìm hiểu về lịch sử thì chắc chắn sẽ không nhàm chán, bởi trong đời sống của giới trẻ hiện nay, đặc biệt là Gen Z không thể thiếu công nghệ. Những trải nghiệm này vừa thú vị, vừa mới lạ. Câu chuyện tại bảo tàng sẽ rất hay và hấp dẫn đối với giới trẻ, mình thấy đặc biệt quan tâm đến những trải nghiệm 3D và chắc chắn các bạn trẻ khác cũng thấy như vậy”, bạn trẻ Nguyễn Thị Ngọc Anh nói.
Tại các khu vực sân vườn và khuôn viên ngoài trời, việc tổ chức các phiên chợ văn hóa định kỳ như đêm xòe hoa hay ngày hội ẩm thực Tây Bắc sẽ giúp tối ưu hóa nguồn thu từ vé trọn gói và phí cho thuê gian hàng. Những ngôi nhà kiến trúc dân tộc cũng có thể biến thành không gian cho các lớp học chuyên sâu theo mùa như làm đèn trung thu, nặn tò he, học chơi nhạc cụ, vừa thu phí tham gia vừa bán các bộ công cụ tự làm tại nhà cho du khách.
Theo ThS Lương Việt Anh, các bảo tàng phải lấy du khách làm trung tâm, mọi sản phẩm số phải xuất phát từ nhu cầu, hành vi và tâm lý của du khách. Bảo tàng phải kết nối với hệ sinh thái du lịch để xây dựng hệ sinh thái chung với đa dạng sản phẩm, trong đó có sản phẩm bảo tàng số. Sản phẩm bảo tàng cần được tích hợp vào hệ thống bán vé, dịch vụ lưu trú, truyền thông trực tuyến, thậm chí kết nối với mạng xã hội để tạo hiệu ứng lan tỏa. Khi đó, giá trị kinh tế từ các sản phẩm bảo tàng mới được khai thác tốt và bền vững.
“Ví dụ, khách quốc tế thường quan tâm đến trải nghiệm nhập vai, khám phá văn hóa bản địa qua trò chơi tương tác; khách nội địa lại thích các ứng dụng tiện ích như bản đồ số, thuyết minh tự động. Kể chuyện bằng công nghệ. Dữ liệu số chỉ trở nên sống động khi được đặt trong một câu chuyện. Thay vì chỉ hiển thị thông tin khô khan, bảo tàng và di tích cần xây dựng các kịch bản trải nghiệm: hành trình khám phá, trò chơi giải mã, nhân vật dẫn chuyện… Công nghệ VR/AR, AI hay gamification sẽ là công cụ để kể chuyện một cách hấp dẫn”, ThS Lương Việt Anh gợi ý xây dựng hệ sinh thái nhằm khai thác giá trị bảo tàng.
Đối với những cảnh quan sinh thái rộng lớn, dịch vụ cắm trại văn hóa cao cấp kết hợp thưởng thức nghệ thuật truyền thống ban đêm, gameshow tương tác… sẽ mang lại nguồn thu đáng kể từ lưu trú và ẩm thực, thay vì chỉ thu vé tham quan như trước kia. Ở mảng quà tặng, bảo tàng có thể phát triển các sản phẩm giáo dục như bộ lắp ráp mô hình kiến trúc thu nhỏ hay tượng tô màu dân gian để phân phối trực tiếp lẫn qua các kênh thương mại điện tử…
Một bảo tàng giàu sức sống không đo đếm bằng số lượng hiện vật lưu giữ trong tủ kính, mà bằng số lượng ký ức và tri thức mà du khách mang theo sau chuyến đi. Việc chủ động đổi mới, lấy trải nghiệm của du khách làm trung tâm sẽ giúp Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam giữ vững vị thế là những điểm đến di sản sống động, vừa bảo tồn trọn vẹn bản sắc dân tộc, vừa phát triển kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.