Việt Nam có mỏ quặng văn hóa lớn, điều cần nhất lúc này là một "đường băng"
VOV.VN - Đưa văn hóa vào trung tâm của mọi quyết sách, phát triển công nghiệp văn hóa thành động lực tăng trưởng và tận dụng AI để nâng cao sức mạnh mềm là những định hướng lớn được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh. TS Hà Thanh Vân đã phân tích những điều kiện then chốt để hiện thực hóa các mục tiêu này.
Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà đang trở thành nguồn lực nội sinh, trụ cột quan trọng định hình sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên số. Tại phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ bốn khoảng trống cốt lõi cùng các chuyển dịch chiến lược nhằm đưa văn hóa vào trung tâm của mọi quyết sách phát triển.
Để biến chủ trương lớn thành những chính sách cụ thể và giải quyết triệt để các "điểm nghẽn" về thể chế, công nghiệp văn hóa lẫn bài toán AI, PV VOV đã có cuộc trao đổi với TS. Hà Thanh Vân (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, giảng viên Trường Đại học Văn Lang).
Đưa văn hóa vào trung tâm của mọi quyết sách phát triển
PV: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh cần đưa văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Theo bà, tư duy này cần được cụ thể hóa như thế nào để không chỉ dừng ở chủ trương mà thực sự tạo chuyển biến trong thực tiễn?
TS Hà Thanh Vân: Trước hết cần hiểu đúng nội hàm của việc “đưa văn hóa vào trung tâm”. Điều này không có nghĩa là mọi nguồn lực đều phải dồn cho ngành văn hóa, mà có nghĩa văn hóa phải trở thành một tiêu chí xuyên suốt trong quá trình hoạch định, thực thi và đánh giá mọi chính sách phát triển. Nghị quyết 80-NQ/TW đã xác định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực, trụ cột và “hệ điều tiết” của phát triển nhanh, bền vững. Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mới đây cũng yêu cầu chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực riêng biệt sang xác lập văn hóa là trụ cột phát triển, hiện diện trong mọi quyết sách về kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia.
Muốn quan điểm này đi vào đời sống, theo tôi, cần tiến hành ít nhất năm sự chuyển hóa cụ thể.
Thứ nhất, phải chuyển từ lời khẳng định mang tính nguyên tắc sang những quy định có tính bắt buộc trong quá trình xây dựng chính sách. Bên cạnh việc đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường, những dự án, quy hoạch, chương trình phát triển lớn cần được đánh giá trên phương diện tác động văn hóa. Một dự án đô thị không chỉ được xem xét về mật độ xây dựng, giao thông hay hiệu quả tài chính, mà còn phải trả lời được các câu hỏi như Có bảo vệ ký ức của cộng đồng hay không? Có giữ được cảnh quan văn hóa không? Có tạo thêm không gian công cộng, thư viện, nhà hát, bảo tàng, công viên và địa điểm sáng tạo không? Có làm gia tăng hay thu hẹp cơ hội tiếp cận văn hóa của người dân?
Thứ hai, phải bảo đảm nguồn lực tương xứng. Nghị quyết 28/2026/QH16 quy định chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu bằng 2% tổng chi ngân sách nhà nước, tuy nhiên hiện mức chi mới khoảng 1,5%. Điều quan trọng không chỉ là tăng tỷ lệ chi mà còn phải thay đổi cách chi, tập trung đầu tư vào con người sáng tạo, hạ tầng số, dữ liệu, giáo dục nghệ thuật, bảo tồn di sản có khả năng tạo sinh giá trị và các dự án có sức lan tỏa.
Thứ ba, phải quản trị văn hóa bằng dữ liệu và kết quả đầu ra. Một trong những yêu cầu đáng chú ý là xây dựng Bộ Chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ Chỉ số thống kê đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa và bộ chỉ số theo dõi việc thực hiện Nghị quyết 80. Đây là bước chuyển từ quản lý bằng báo cáo hành chính sang quản trị dựa trên bằng chứng.
Thứ tư, phải gắn trách nhiệm với người đứng đầu. Mỗi địa phương cần xác định rõ lợi thế văn hóa của mình và lựa chọn một số dự án dẫn dắt, thay vì sao chép mô hình của nhau. Mỗi dự án phải chỉ rõ sản phẩm, doanh nghiệp thực hiện, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ và đóng góp dự kiến vào GRDP, việc làm, xuất khẩu hoặc du lịch.
Thứ năm, phải trả lại vai trò chủ thể cho người dân, văn nghệ sĩ và doanh nghiệp. Nhà nước cần chuyển từ tư duy chủ yếu quản lý, cấp phép và tổ chức sang tư duy kiến tạo, đặt hàng, đầu tư, bảo vệ bản quyền, mở dữ liệu và tạo thị trường. Văn hóa không thể phát triển chỉ bằng hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước mà cần sự tham gia của đội ngũ sáng tạo, doanh nghiệp và cộng đồng.
PV: Một trong bốn khoảng trống được Tổng Bí thư chỉ ra là năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc tế còn hạn chế. Theo bà, đâu là điểm nghẽn lớn nhất khiến các sản phẩm văn hóa Việt Nam vẫn chưa tạo được dấu ấn mạnh trên thị trường quốc tế?
TS Hà Thanh Vân: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất không phải là Việt Nam thiếu chất liệu văn hóa hay thiếu người có tài năng. Điểm nghẽn nằm ở chỗ chúng ta chưa hình thành được một hệ sinh thái hoàn chỉnh để chuyển hóa tài năng và vốn văn hóa thành sản phẩm có chất lượng, tài sản trí tuệ, thương hiệu và thị trường quốc tế.
Việt Nam có hơn 40.000 di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh theo số liệu được nêu tại phiên họp. Tuy nhiên, phần lớn nguồn tài nguyên này chưa được số hóa, chuẩn hóa, bảo hộ và kết nối để phục vụ giáo dục, nghiên cứu, điện ảnh, trò chơi điện tử, thiết kế, xuất bản hay trí tuệ nhân tạo. Điều đó cho thấy chúng ta đang sở hữu một mỏ quặng văn hóa rất lớn nhưng năng lực tinh luyện, thiết kế và đưa sản phẩm ra thị trường còn yếu.
Điểm yếu đầu tiên là sự đứt gãy trong chuỗi giá trị. Chúng ta thường chú trọng khâu sáng tác nhưng chưa quan tâm đúng mức đến các khâu phát triển dự án, sản xuất, sở hữu trí tuệ, quảng bá, phân phối và kinh doanh bản quyền. Một tác phẩm có giá trị chưa tự động trở thành sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường.
Thứ hai là quy mô sản xuất còn nhỏ và thiếu nguồn vốn dài hạn. Trong khi nhiều quốc gia phát triển các hệ sinh thái sở hữu trí tuệ trên nhiều nền tảng, Việt Nam vẫn chủ yếu vận hành theo từng dự án riêng lẻ, chưa hình thành được các chuỗi sản phẩm có khả năng phát triển lâu dài.
Thứ ba là năng lực phân phối quốc tế còn hạn chế. Trong thời đại số, một sản phẩm muốn đi xa không chỉ cần chất lượng mà còn cần chiến lược phát hành, tiếp cận thị trường và quảng bá phù hợp.
Bên cạnh đó, bản quyền chưa thực sự trở thành nền tảng của thị trường sáng tạo. Khi quyền lợi của người sáng tạo chưa được bảo đảm, nhà đầu tư sẽ khó mạnh dạn đầu tư dài hạn.
Ngoài ra, chúng ta cũng còn thiếu đội ngũ nhân lực vừa hiểu nghệ thuật, vừa am hiểu công nghệ và thị trường như nhà sản xuất, chuyên gia bản quyền, quản trị dự án hay phát hành quốc tế. Do đó, theo tôi, muốn tạo dấu ấn quốc tế, chúng ta không thể chỉ kêu gọi văn nghệ sĩ sáng tạo thêm nhiều tác phẩm. Cần xây dựng toàn bộ đường băng để tác phẩm cất cánh, từ đào tạo, quỹ đầu tư, dữ liệu, công nghệ, bản quyền, sản xuất đến phân phối quốc tế.
AI: Cơ hội để văn hóa Việt bứt phá trên bản đồ sáng tạo
PV: AI đang tạo ra những thay đổi rất nhanh đối với lĩnh vực sáng tạo. Theo bà, AI sẽ mở ra cơ hội gì cho việc phát triển các sản phẩm văn hóa Việt Nam?
TS Hà Thanh Vân: AI có thể trở thành một công cụ khuếch đại năng lực sáng tạo, đặc biệt đối với một quốc gia có kho tàng di sản lớn nhưng nguồn lực sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế còn hạn chế như Việt Nam.
Cơ hội đầu tiên là số hóa, bảo tồn và phục dựng di sản. Theo Nghị định 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số, AI cùng các công nghệ 3D, XR và bản sao số có thể hỗ trợ nhận dạng chữ viết cổ, khôi phục hình ảnh, phục dựng kiến trúc, mô phỏng hiện vật và tạo trải nghiệm tham quan tương tác, giúp di sản tiếp cận đông đảo công chúng.
AI cũng góp phần giảm chi phí, rút ngắn thời gian sản xuất trong điện ảnh, hoạt hình, thiết kế, quảng cáo hay trò chơi điện tử thông qua việc hỗ trợ xây dựng ý tưởng, thiết kế bối cảnh, storyboard, xử lý âm thanh, phụ đề và lồng tiếng. Đây là lợi thế lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ và các nhóm sáng tạo độc lập.
Bên cạnh đó, AI giúp sản phẩm văn hóa Việt Nam vượt qua rào cản ngôn ngữ nhờ dịch thuật, phụ đề, lồng tiếng và bản địa hóa nội dung với chi phí thấp hơn, đồng thời tạo điều kiện cá nhân hóa trải nghiệm tại bảo tàng, thư viện hay các điểm đến văn hóa.
Cơ hội thứ tư là cá nhân hóa trải nghiệm văn hóa. Bảo tàng, thư viện và điểm đến du lịch có thể xây dựng trợ lý AI giúp người sử dụng tìm hiểu lịch sử, nhân vật, hiện vật hoặc phong tục theo độ tuổi, ngôn ngữ và nhu cầu. Một học sinh có thể tiếp cận di sản bằng trò chơi; một nhà nghiên cứu có thể khai thác dữ liệu chuyên sâu; khách quốc tế có thể được thuyết minh theo ngôn ngữ và nền tảng kiến thức của mình.
Cơ hội thứ năm là khai thác những tài nguyên văn hóa lâu nay ít được biết đến. AI có khả năng xử lý khối lượng dữ liệu rất lớn, từ văn học dân gian, âm nhạc truyền thống, hoa văn, kiến trúc, trang phục đến tư liệu địa phương. Nếu dữ liệu được chuẩn hóa và bảo vệ đúng cách, các nhà sáng tạo có thể tìm thấy những mối liên hệ mới, phát triển chất liệu truyền thống thành thiết kế, hoạt hình, trò chơi, điện ảnh hoặc sản phẩm giáo dục.
Cơ hội thứ sáu, quan trọng hơn cả, là xây dựng các mô hình AI hiểu tiếng Việt và văn hóa Việt Nam. Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh dữ liệu về tiếng Việt, lịch sử, di tích, di sản phi vật thể, bảo tàng, thư viện, văn học và nghệ thuật truyền thống phải trở thành nguồn lực cho trí tuệ nhân tạo Việt Nam. Nếu các hệ thống AI phổ biến chủ yếu được đào tạo bằng dữ liệu nước ngoài, chúng có thể hiểu rất ít, hiểu sai hoặc trình bày một cách hời hợt về văn hóa Việt Nam.
PV: Ngược lại, AI cũng đặt ra nhiều thách thức về bản quyền, bản sắc và tính nguyên bản. Việt Nam cần chuẩn bị những gì để không bị tụt lại?
TS Hà Thanh Vân: Để ứng phó với thách thức từ AI, Việt Nam trước hết cần hoàn thiện hành lang pháp lý về bản quyền sáng tạo. Dù Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi cùng Nghị định 134/2026/NĐ-CP đã tạo lập khung khổ minh bạch về dữ liệu và gắn nhãn AI, lĩnh vực văn hóa vẫn cần hướng dẫn chi tiết về quyền từ chối cho AI khai thác, cơ chế cấp phép tập thể, chia sẻ doanh thu và tiêu chí đo lường sự đóng góp của con người.
Song song đó, cơ chế truy xuất nguồn gốc bằng mã hóa, watermark hay metadata là bắt buộc để xác thực thông tin, trong đó khâu kiểm chứng thủ công của con người tại các mảng báo chí, xuất bản hay di sản phải là quy định bắt buộc nhằm ngăn chặn nguy cơ sai lệch lịch sử. AI có thể tạo ra nội dung rất trôi chảy nhưng sai dữ kiện, nhầm nhân vật, xuyên tạc niên đại hoặc ghép nối những chi tiết không tồn tại.
Mặt khác, cần thiết lập cơ chế quản trị dữ liệu văn hóa. Không phải mọi dữ liệu di sản đều có thể mở hoàn toàn. Một số tư liệu liên quan đến nghi lễ thiêng, tri thức bản địa, đời sống riêng tư, cộng đồng dân tộc hoặc bí quyết của nghệ nhân cần được phân loại và xác định rõ điều kiện sử dụng. Cộng đồng nắm giữ di sản phải được tham vấn và được chia sẻ lợi ích khi dữ liệu của họ được thương mại hóa.
Việc số hóa không được biến tài sản của cộng đồng thành một kho nguyên liệu miễn phí cho các doanh nghiệp công nghệ. Bài phát biểu ngày 13/7/2026 cũng đặt ra yêu cầu xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, cộng đồng, nghệ nhân, tác giả, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp.
Ngoài ra, cần xây dựng các kho dữ liệu tiếng Việt và văn hóa Việt Nam có chất lượng. Dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối và tái sử dụng. Dữ liệu sai, thiếu ngữ cảnh hoặc mang định kiến sẽ tạo ra những hệ thống AI sai lệch. Vì vậy, cần sự phối hợp giữa chuyên gia văn hóa, ngôn ngữ học, sử học, dân tộc học, thư viện, bảo tàng, nghệ sĩ và kỹ sư công nghệ.
Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo sáng tạo cần trang bị cho người học kiến thức về đạo đức, bản quyền và năng lực làm chủ công nghệ. Sau cùng, các chính sách hỗ trợ phải hướng tới bảo vệ tính đa dạng và chiều sâu nghệ thuật, tránh rơi vào thứ "thẩm mỹ trung bình" trơn tru nhưng thiếu cá tính. Chính sách hỗ trợ văn hóa không nên chỉ chạy theo sản lượng nội dung được tạo nhanh bằng AI, mà phải khuyến khích phong cách cá nhân, tiếng nói thiểu số, thử nghiệm nghệ thuật và những tác phẩm có chiều sâu.
Tính nguyên bản trong thời đại AI không nhất thiết có nghĩa tác phẩm hoàn toàn không sử dụng máy móc. Điều quan trọng là con người có đưa vào đó quan điểm, trải nghiệm, lựa chọn và trách nhiệm sáng tạo hay không.
Động lực cho mục tiêu 7% GDP và khát vọng "sức mạnh mềm"
PV: Nghị quyết 80 đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030. Theo bà, mục tiêu này có khả thi không và cần những điều kiện gì để hiện thực hóa?
TS Hà Thanh Vân: Theo tôi, mục tiêu 7% GDP là có cơ sở để phấn đấu, nhưng rất tham vọng và chỉ khả thi khi chúng ta coi đây là một chương trình tăng trưởng kinh tế thực sự, chứ không phải một chỉ tiêu riêng của ngành văn hóa.
Theo bài phát biểu tại phiên họp, các ngành công nghiệp văn hóa hiện đóng góp khoảng 4% GDP. Tăng từ 4% lên 7% có nghĩa tỷ trọng phải tăng thêm 3 điểm phần trăm, tương đương mức tăng 75% xét riêng về tỷ trọng. Trong khi quy mô GDP quốc gia tiếp tục tăng, giá trị gia tăng của công nghiệp văn hóa phải tăng nhanh hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Ở quy mô thế giới, UNESCO ước tính các ngành văn hóa và sáng tạo đóng góp khoảng 3,1% GDP toàn cầu và tạo ra khoảng 6,2% việc làm. Như vậy, mục tiêu 7% của Việt Nam cao hơn mức trung bình toàn cầu, nhưng không phải không thể đạt được đối với một nền kinh tế biết khai thác mạnh du lịch văn hóa, nội dung số, thiết kế, điện ảnh, trò chơi, thời trang, quảng cáo và tài sản trí tuệ.
Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết trước tiên là phải chuẩn hóa và thống nhất phương pháp thống kê. Do công nghiệp văn hóa giao thoa rộng với du lịch, phần mềm, thiết kế hay quảng cáo, việc làm rõ giá trị gia tăng trực tiếp là bắt buộc để tránh tính trùng doanh thu, bảo đảm phản ánh đúng năng lực sáng tạo thực chất. Việc hoàn thiện hệ thống số liệu gốc, phương pháp đo lường minh bạch từ năm 2026 chính là nền móng để theo dõi sát sao đóng góp về doanh thu, bản quyền, việc làm và vị thế của doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Điều kiện thứ hai là phải lựa chọn một số ngành có khả năng tăng trưởng nhanh, thay vì đầu tư dàn trải. Việt Nam có thể ưu tiên nội dung số và trò chơi điện tử; điện ảnh, hoạt hình và kỹ xảo; du lịch văn hóa; thiết kế và thời trang; âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn; quảng cáo sáng tạo; xuất bản số và các sản phẩm khai thác di sản.
Điều kiện thứ ba là phải có doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt. Công nghiệp văn hóa không thể chỉ dựa trên đơn vị sự nghiệp công lập hoặc các dự án ngân sách. Cần những doanh nghiệp có khả năng huy động vốn, quản trị rủi ro, sử dụng công nghệ, xây dựng thương hiệu và phân phối sản phẩm ra quốc tế. Nhà nước nên đóng vai trò đầu tư hạ tầng, đặt hàng, hỗ trợ nghiên cứu, bảo vệ bản quyền và chia sẻ rủi ro trong giai đoạn đầu.
Bên cạnh đó, hệ thống tài chính cần phát triển cơ chế định giá tài sản trí tuệ, tín dụng mạo hiểm và ưu đãi thuế nhằm biến các sản phẩm sáng tạo thành tài sản kinh tế thực sự. Đồng thời, việc đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao trong các khâu kỹ xảo, thiết kế, quản trị và bản quyền theo mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia là yêu cầu then chốt. Sau cùng, các sản phẩm văn hóa phải được thiết kế ngay từ đầu với tư duy xuất khẩu, hướng tới bán bản quyền và phát hành toàn cầu để vượt qua giới hạn quy mô thị trường nội địa.
PV: Tổng Bí thư yêu cầu chuyển từ quảng bá văn hóa sang phát triển sức mạnh mềm quốc gia. Theo bà, Việt Nam cần làm gì để các sản phẩm văn hóa có thể vươn ra thế giới và trở thành công cụ nâng cao vị thế quốc gia?
TS Hà Thanh Vân: Theo tôi, “quảng bá văn hóa” và “sức mạnh mềm” có liên quan nhưng không đồng nhất. Quảng bá chủ yếu là hoạt động chủ động giới thiệu hình ảnh, còn sức mạnh mềm xuất hiện khi người khác tự nguyện quan tâm, yêu thích, sử dụng, chia sẻ và bị thuyết phục bởi các giá trị, câu chuyện và lối sống mà một quốc gia tạo ra.
Nói giản dị, quảng bá là chúng ta nói với thế giới rằng Việt Nam có một nền văn hóa đẹp. Sức mạnh mềm là khi công chúng thế giới tự tìm xem phim Việt, đọc văn học Việt, nghe nhạc Việt, chơi trò chơi Việt, mặc sản phẩm thiết kế Việt, học tiếng Việt và muốn đến Việt Nam để trải nghiệm những không gian từng xuất hiện trong các tác phẩm ấy. Muốn đạt được điều đó, trước hết Việt Nam cần chuyển từ tư duy tổ chức những sự kiện giới thiệu đơn lẻ sang xây dựng các tài sản trí tuệ và thương hiệu có đời sống lâu dài. Một tuần văn hóa tại nước ngoài có thể tạo sự chú ý trong vài ngày, nhưng một bộ phim, tiểu thuyết, trò chơi hoặc nhân vật được yêu thích có thể tác động trong nhiều năm, thậm chí qua nhiều thế hệ.
Ngoài ra, Việt Nam cần xây dựng chiến lược kể chuyện quốc gia, không chỉ dựa vào chiến tranh hay di sản cổ mà mở rộng sang sức sống đô thị, xã hội đương đại và con người hôm nay, bởi một nền văn hóa sống động luôn cần cả ký ức lẫn những góc nhìn mới. Song song đó, việc triển khai chương trình quốc gia về dịch thuật, bản địa hóa theo tinh thần Nghị quyết 80 và hợp tác với các nhà sáng tạo toàn cầu sẽ giúp hình thành mạng lưới đại sứ văn hóa hiệu quả. Văn hóa cũng phải được kết nối chặt chẽ với ngoại giao, du lịch, thương mại và giáo dục để tạo hiệu ứng cộng hưởng từ phim ảnh, trò chơi đến lễ hội hay văn học.
Đồng thời, Việt Nam cần tham gia thị trường quốc tế bằng tư duy kinh doanh chuyên nghiệp, biến các sự kiện thành nơi giao dịch bản quyền, gọi vốn với sự đồng hành của doanh nghiệp và chuyên gia. Đặc biệt, cộng đồng người Việt ở nước ngoài phải được coi là đối tác sáng tạo bình đẳng, còn thước đo sức mạnh mềm cần dựa trên tác động thực tế như doanh thu, bản quyền hay khách du lịch thay vì số lượng sự kiện. Trên hết, chất lượng tác phẩm cùng sự tự do sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật vẫn là điều kiện tiên quyết.
Chuyển từ quảng bá sang sức mạnh mềm cũng chính là chuyển từ việc “nói về Việt Nam” sang làm ra những sản phẩm khiến thế giới muốn chủ động khám phá Việt Nam. Khi văn hóa Việt được yêu thích một cách tự nhiên, nó sẽ mở những cánh cửa mà đôi khi kinh tế và ngoại giao chính thức khó mở được.
PV: Xin cảm ơn bà!