Du lịch tàu biển tại Việt Nam: Đếm tàu, đếm khách hay đo mức chi tiêu?
VOV.VN - Du lịch tàu biển tại Việt Nam cần được đánh giá đầy đủ và thực chất, chuyển mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng, theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đã nêu rõ quan điểm về đổi mới tư duy phát triển du lịch từ diện rộng, dựa vào số lượng, khai thác tài nguyên đơn thuần sang chú trọng mô hình phát triển theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và giá trị gia tăng cao gắn với các sản phẩm giàu sáng tạo, trải nghiệm đặc sắc. Để đáp ứng yêu cầu này, hoạt động du lịch tàu biển tại Việt Nam đứng trước bài toán tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng.
Hiện nay, mỗi khi đón tàu du lịch quốc tế, nhiều địa phương chủ yếu nêu số lượng khách và thuyền viên trên tàu, hoặc quy mô/sức chở tối đa của tàu, chứ ít khi công bố số lượng khách xuống tàu thực tế (con số tương đối thông qua thẻ đi bờ, dù có khách làm thẻ đi bờ nhưng không xuống tàu).
Quan trọng hơn, tác động kinh tế từ mỗi chuyến tàu du lịch lại ít được nhắc đến, như doanh thu tổng hợp khi đón mỗi chuyến tàu, hay mỗi vị khách lên bờ đã chọn mua những hàng hóa, tour tham quan nào và đã chi ra bao nhiêu tiền?
Du lịch tàu biển Việt Nam bị xếp hạng thấp về tác động kinh tế
Những năm qua, việc các dữ liệu chưa được công bố đầy đủ là một phần nguyên nhân khiến Việt Nam bị xếp hạng thấp tại Đông Nam Á, xét về mức tác động kinh tế từ du lịch tàu biển. Khi đặt trong bức tranh toàn cảnh của khu vực, thị phần về doanh thu, lượng khách và giá trị kinh tế mà Việt Nam nhận được từ du lịch tàu biển vẫn ở mức khiêm tốn.
Trong khi Đông Nam Á đón khoảng 3,9 triệu lượt khách ghé thăm bằng tàu biển trong năm 2024, lượng khách đến Việt Nam lại chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé, khoảng 6% (khoảng 248.100 lượt khách đến bằng đường biển, chỉ chiếm 1,4% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam), theo báo cáo Đánh giá tác động kinh tế của du lịch tàu biển tại Đông Nam Á công bố năm 2026. Ngoài Singapore và Malaysia chiếm tổng cộng 70% thị phần du lịch tàu biển, các nước Thái Lan, Indonesia và Việt Nam chỉ được xem là các thị trường tầm trung, chiếm tổng cộng khoảng 25% lượng khách ghé thăm bằng tàu biển trong khu vực.
Báo cáo chỉ ra rằng, ngay cả so sánh với thị trường tầm trung ở Đông Nam Á về đóng góp cho GDP, vẫn còn khoảng cách lớn giữa ngành du lịch tàu biển Việt Nam với các nước nhóm xếp trên. Du lịch tàu biển chỉ đóng góp tổng cộng 76 triệu USD vào GDP của Việt Nam năm 2024, trong đó 68% đến từ hoạt động chi tiêu của hành khách và thủy thủ đoàn tại cảng. Kết quả này cách khá xa so với nhóm các nước xếp trên như Indonesia (đóng góp 743 triệu USD), Malaysia (đóng góp 376 triệu USD), hay Thái Lan (đóng góp 222 triệu USD).
Xét về doanh thu và tác động kinh tế tại Đông Nam Á, Việt Nam chỉ xếp trên nhóm các quốc gia có ngành du lịch tàu biển kém phát triển hoặc bị hạn chế như Myanmar, Campuchia và Brunei. Lĩnh vực này mới chỉ hỗ trợ gần 10.000 việc làm tại Việt Nam (trực tiếp và gián tiếp), một con số khá khiêm tốn nếu so sánh với tổng cộng 529.000 việc làm tại Đông Nam Á.
Du lịch tàu biển cần được đánh giá thực chất
Các chuyên gia trong ngành thẳng thắn cho rằng, việc nhiều địa phương hiện nay đánh giá hiệu quả du lịch tàu biển chỉ dựa trên số chuyến tàu neo đậu hoặc sức chở tối đa của mỗi tàu phản ánh tư duy chạy theo số lượng thay vì chất lượng.
Thực tế tại Việt Nam hiện nay, hoạt động du lịch tàu biển chủ yếu vẫn là "Chỉ quá cảnh" (Transit-Only), tức là hành khách chỉ ghé lên bờ trong vài giờ rồi rời đi. Trong một số trường hợp, con số khách trên các tàu du lịch nhập cảnh vào Việt Nam sẽ cao hơn đáng kể số lượng khách lên bờ thực tế. Do đó, nếu không đo lường tỷ lệ khách thực tế xuống tàu (disembark) và mức chi tiêu thực tế trên bờ, các con số báo cáo sẽ phản ánh sai lệch giá trị kinh tế thực sự giữ lại tại địa phương.
"Khi các tàu biển quốc tế chỉ quá cảnh tại Việt Nam, hành khách chỉ lên bờ vài giờ, Việt Nam bỏ lỡ nguồn thu lớn từ dịch vụ lưu trú trước/sau chuyến đi, dịch vụ hàng không và dịch vụ đón/trả khách. Chúng ta cũng chưa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các tàu biển: Nông sản, thực phẩm và các dịch vụ kỹ thuật cảng biển nội địa chưa đáp ứng các tiêu chuẩn để chen vào quy trình vận hành toàn cầu của các hãng tàu lớn", một chuyên gia tàu biển tại Khánh Hòa cho biết.
Các chuyên gia kiến nghị, những địa phương có khả năng đón tàu du lịch cỡ lớn như Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai... cần nghiên cứu khung phân tích tác động kinh tế theo tiêu chuẩn quốc tế, từ đó đánh giá du lịch tàu biển trên một hệ thống chỉ số toàn diện, dựa vào ứng dụng công nghệ và sự chia sẻ dữ liệu giữa các bên liên quan. Đây không chỉ là công tác thống kê, mà còn nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu thị trường, phân tích, dự báo xu hướng tiêu dùng và nhu cầu du lịch; qua đó phát triển sản phẩm, dịch vụ phù hợp.
Khung phân tích du lịch tàu biển cần nhiều chỉ số quan trọng như: Tỷ lệ khách xuống tàu thực tế (số lượng hành khách thực sự rời tàu vào đất liền tham quan, mua sắm thay vì chỉ ở lại trên tàu); Mức chi tiêu trung bình trên bờ (doanh thu thu được từ hành khách và thuyền viên cho các dịch vụ tour tham quan, ăn uống, mua sắm và vận chuyển nội địa); Tác động kinh tế trực tiếp (chi tiêu của khách/thuyền viên tại cảng kết hợp với doanh thu từ việc các hãng tàu mua sắm vật tư, thực phẩm và nhiên liệu địa phương); Tác động kinh tế gián tiếp và lan tỏa (mức độ tham gia của chuỗi cung ứng địa phương như nông sản, logistics, dịch vụ bến bãi, bảo trì... và dòng tiền từ lương nhân sự được tái chi tiêu vào nền kinh tế địa phương); Doanh thu chuỗi cung ứng vật tư & dịch vụ cảng biển (giá trị các hợp đồng cung ứng nước ngọt, nhiên liệu, thực phẩm và phí dịch vụ hàng hải); Số lượng việc làm và thu nhập tạo ra (tổng số lao động trực tiếp và gián tiếp được tạo ra cùng mức thu nhập bình quân của lực lượng này); Tỷ lệ chuyển đổi sang Cảng nhà (homeport/fly-cruise) phản ánh qua mức độ thu hút hành khách sử dụng dịch vụ lưu trú trước/sau chuyến đi và vận chuyển hàng không.
| Theo báo cáo Đánh giá tác động kinh tế của du lịch tàu biển tại Đông Nam Á công bố năm 2026, ngành du lịch tàu biển Đông Nam Á đã tạo ra tổng sản lượng kinh tế trên 10 tỷ USD vào năm 2024. Tuy nhiên, báo cáo này ghi nhận Việt Nam chỉ thu khoảng 208 triệu USD trong năm 2024, tương đương khoảng 2% của toàn khu vực (xếp thứ 6/9 quốc gia được đánh giá trong báo cáo, trừ Lào không có đường biển). |