Nghị quyết 19 đặt lại bài toán hiệu quả, đầu tư công không chỉ là “bơm vốn”
VOV.VN - Nhiều năm qua, đầu tư công thường được nhìn nhận như một công cụ giải ngân để kích thích tăng trưởng kinh tế ngắn hạn. Tuy nhiên, Nghị quyết 19-NQ/TW đã tạo ra thay đổi về đầu tư công: không chạy theo tỷ lệ giải ngân, mà coi hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tạo động lực cho nền kinh tế là thước đo.
Thay đổi tư duy - từ "tiêu cho hết tiền" sang "đầu tư tạo động lực"
Trong một thời gian dài, áp lực lớn nhất của các bộ, ngành và địa phương đối với đầu tư công là tỷ lệ giải ngân. Việc chạy theo tiến độ số học vô hình trung đẩy nhiều dự án vào tình trạng “xong cho đúng quy trình” nhưng thiếu tính kết nối liên vùng, chậm đưa vào vận hành hoặc hiệu quả khai thác thực tế thấp hơn nhiều so với dự toán. Thực tế cho thấy, không ít công trình giao thông hay hạ tầng cơ sở sau khi khánh thành vẫn rơi vào cảnh vắng vẻ, chưa tạo ra được hành lang kinh tế mới tương xứng với nguồn vốn đã bỏ ra.
Nghị quyết 19-NQ/TW ra đời mang tính định hướng chiến lược, đặt ra yêu cầu tái cơ cấu đầu tư công một cách cơ bản. Yêu cầu cốt lõi không còn nằm ở việc tiêu hết ngân sách hay phần trăm kế hoạch đã hoàn thành, mà là vốn đầu tư công phải đóng vai trò “vốn mồi” kích hoạt các nguồn lực xã hội. Nguồn vốn nhà nước cần tập trung vào các hạ tầng chiến lược như giao thông kết nối liên vùng, hạ tầng số và hạ tầng năng lượng xanh nhằm mở đường cho dòng vốn tư nhân bứt phá.
Nhìn nhận về bài toán đổi mới mô hình tăng trưởng tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam, PGS. TS. Trần Đình Thiên (Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ Quốc gia) phân tích, yêu cầu cốt lõi của nền kinh tế hiện nay không phải là đếm số tiền giải ngân được bao nhiêu phần trăm kế hoạch. Theo ông Thiên, trong bối cảnh nền kinh tế hướng tới các mục tiêu phát triển chất lượng cao, hiệu quả đầu tư công chỉ thực sự đạt được khi một đồng vốn nhà nước bỏ ra có khả năng kích hoạt và lôi kéo được nhiều đồng vốn từ khu vực tư nhân, từ đó mở ra các không gian phát triển mới và nâng cao năng lực cạnh tranh cho cả nền kinh tế.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu mới đối với các địa phương. Thay vì đăng ký danh mục dự án dàn trải để sử dụng hết nguồn vốn được giao, bài toán cần được đặt từ hiệu quả kinh tế và khả năng tạo động lực phát triển.
Một đồng vốn đầu tư công phải hướng tới những kết quả cụ thể như nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí logistics, cải thiện khả năng kết nối và tạo nền tảng cho các chuỗi sản xuất phát triển.
Nói cách khác, giải ngân nhanh là cần thiết, nhưng giải ngân đúng và tạo ra hiệu quả lâu dài mới là mục tiêu cuối cùng.
Đặt lại bài toán hiệu quả, bao nhiêu giá trị mới được tạo ra?
Để thực thi tinh thần của Nghị quyết 19-NQ/TW, việc đặt lại bài toán hiệu quả đòi hỏi những giải pháp đồng bộ về mặt thể chế, công nghệ và trách nhiệm giải trình. Chuyển từ quản trị theo đầu vào (số vốn phân bổ) sang quản trị theo đầu ra (sức tăng trưởng kinh tế và năng lực hấp thụ nguồn lực) là chìa khóa để tránh lãng phí.
Tại Hội thảo Khoa học về Cải cách Thể chế và Môi trường Kinh doanh, TS. Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, nhấn mạnh rằng nút thắt của nền kinh tế hiện nay không đơn thuần là thiếu tiền, mà còn nằm ở khả năng tiếp cận, kết nối và hấp thụ nguồn lực.
Theo ông Anh, nếu các rào cản về thể chế và thủ tục chưa được tháo gỡ, việc tiếp tục bơm thêm vốn chưa chắc tạo ra hiệu quả như kỳ vọng. Vì vậy, đầu tư công phải chắt chiu từng đồng, tập trung vào đúng những điểm nghẽn hạ tầng cốt lõi để tạo tín hiệu chính sách rõ ràng, củng cố niềm tin và khơi thông nguồn lực trong toàn xã hội. Đây cũng chính là điểm khác biệt căn bản giữa “bơm vốn” và “đầu tư tạo động lực”.
Nếu chỉ coi giải ngân là đích đến, đầu tư công có thể hoàn thành về mặt thủ tục nhưng chưa chắc tạo ra giá trị tương xứng. Ngược lại, nếu mỗi dự án được đặt trong tổng thể quy hoạch, chuỗi giá trị và khả năng huy động nguồn lực xã hội, đồng vốn nhà nước có thể tạo ra hiệu ứng lớn hơn so với giá trị của chính công trình được xây dựng.
Đầu tư công vì thế không chỉ là bài toán tài chính trong một năm ngân sách. Đây là công cụ để kiến tạo năng lực phát triển dài hạn.
Nghị quyết 19-NQ/TW đòi hỏi phải chuyển từ tư duy “phân bổ và giải ngân” sang “quản trị hiệu quả nguồn vốn”. Khi đó, thước đo cuối cùng không phải là bao nhiêu tiền đã được tiêu, mà là bao nhiêu giá trị mới được tạo ra, bao nhiêu nguồn lực xã hội được kích hoạt và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên như thế nào.
Việc thực thi nghiêm túc Nghị quyết 19-NQ/TW sẽ là nền tảng quan trọng giúp Việt Nam tối ưu hóa nguồn lực quốc gia, loại bỏ những dự án dàn trải, kém hiệu quả và xây dựng một nền kinh tế tự chủ, bền vững.