Nghị quyết 23 mở thêm cơ hội để kiều bào New Zealand góp sức xây dựng đất nước
VOV.VN - Với khoảng 6,5 triệu người đang sinh sống ở nước ngoài, cộng đồng kiều bào luôn là bộ phận gắn bó mật thiết với quê hương. Nghị quyết 23 tiếp tục khẳng định vai trò của kiều bào, tạo thêm điều kiện để bà con đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước.
Cộng đồng kiều bào gồm khoảng 6,5 triệu người đang sống ở nước ngoài luôn được coi là một bộ phận máu thịt, không thể thiếu của dân tộc ta. Trải qua nhiều giai đoạn, bà con kiều bào luôn gắn bó và đồng hành cùng quê hương đất nước. Sự ra đời của Nghị quyết 23 vào tháng 8/2026 vừa qua một lần nữa khẳng định vị trí của kiều bào trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đồng thời mở ra cánh cửa để bà con có thể đóng góp nhiều hơn nữa vào việc xây dựng đất nước.
Phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam thường trú tại Australia theo dõi khu vực châu Đại Dương đã phỏng vấn chị Nguyễn Lam Giang, Trưởng bộ phận đối ngoại khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á của Trường Đại học Waikato New Zealand, đồng Chủ tịch của Mạng Đới tri thức Việt Nam tại New Zealand về kỳ vọng của kiều bào sau khi Nghị quyết 23 ra đời.
PV: Chị cảm nhận như thế nào về Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về công tác người Việt ở nước ngoài, trong đó lần đầu tiên xác định người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam mà còn là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia? Sự khẳng định này có ý nghĩa như thế nào với cộng đồng người Việt đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, trong đó có New Zealand?
Chị Nguyễn Lam Giang: Tôi cho rằng điểm đáng chú ý của Nghị quyết 23-NQ/TW là cách nhìn nhận ngày càng rõ hơn về vai trò và tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Sau hơn 20 năm kể từ Nghị quyết 36, cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã có nhiều thay đổi, với lực lượng chuyên gia, trí thức, doanh nhân và những người làm việc trong các lĩnh vực chuyên môn ngày càng phát triển.
Từ góc nhìn cá nhân, tôi đặc biệt quan tâm đến khía cạnh tri thức và kết nối quốc tế. Tôi đang làm việc trong lĩnh vực giáo dục đại học tại New Zealand, một môi trường có nhiều kinh nghiệm về giáo dục, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy, tôi nhìn nhận vai trò của người Việt ở nước ngoài không chỉ ở việc “đóng góp về Việt Nam”, mà còn ở khả năng tạo ra những kết nối hai chiều giữa Việt Nam và nơi chúng tôi đang sinh sống.
Đối với cộng đồng người Việt tại New Zealand, tôi nghĩ đây là một thời điểm rất thuận lợi. Quan hệ Việt Nam - New Zealand đang bước vào một giai đoạn mới, với giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực được đặt trong những ưu tiên hợp tác song phương. Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới New Zealand tháng 8/2026 và các kết quả đạt được trong lĩnh vực giáo dục là một minh chứng khá rõ cho xu hướng này.
Vì vậy, tôi nghĩ cộng đồng người Việt tại New Zealand có thể đóng vai trò như những “cầu nối” rất tự nhiên, kết nối con người, tri thức, các trường đại học, doanh nghiệp và các cơ hội hợp tác giữa hai nước.
PV: Nghị quyết 23 cũng thể hiện sự đổi mới tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên thành chủ động tạo lập môi trường, cơ chế và các điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu rộng hơn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Là một người Việt đang công tác tại New Zealand và tham gia nhiều dự án với Việt Nam, theo chị, sự thay đổi tư duy này tác động như thế nào đến việc các kiều bào tham giao nhiều hơn vào việc xây dựng, phát triển đất nước, trong đó có bản thân chị?
Chị Nguyễn Lam Giang: Tôi nghĩ sự thay đổi quan trọng nhất nằm ở việc nhìn nhận người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đối tượng được vận động tham gia, mà là những người có thể cùng tham gia xây dựng và triển khai các hoạt động hợp tác.
Với thực tế công việc của tôi tại một trường đại học ở New Zealand, tôi nhận thấy một mối quan hệ hợp tác bền vững không thể chỉ dựa trên mong muốn của một phía. Cần có nhu cầu thực tế, đúng đối tác, cơ chế phù hợp và quan trọng nhất là những con người có khả năng kết nối hai bên.
Vì vậy, tôi rất quan tâm đến khả năng phát triển các mô hình hợp tác thực chất giữa các trường đại học, doanh nghiệp và tổ chức của Việt Nam với các đối tác tại New Zealand. Đó có thể là hợp tác đào tạo, nghiên cứu, phát triển kỹ năng, đổi mới sáng tạo hoặc những dự án giải quyết các vấn đề cụ thể của doanh nghiệp và xã hội.
Với bản thân tôi, đây cũng là cách tôi muốn đóng góp: không nhất thiết phải là những dự án thật lớn, mà là tìm đúng nhu cầu, kết nối đúng nguồn lực và tạo ra những hợp tác có kết quả cụ thể.
PV: Theo chị, Việt Nam cần làm những việc cụ thể gì để tạo ra môi trường và cơ chế thích hợp nhằm khuyến khích người Việt ở nước ngoài tham gia sâu hơn vào việc xây dựng và phát triển đất nước?
Chị Nguyễn Lam Giang: Theo tôi, điều quan trọng là xây dựng được một cơ chế kết nối thực chất giữa nhu cầu trong nước và nguồn lực của kiều bào.
Thứ nhất, cần xác định rõ những lĩnh vực Việt Nam đang có nhu cầu về chuyên môn, công nghệ, nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chủ động kết nối với các chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài. Khi có một “bài toán” cụ thể, việc huy động nguồn lực sẽ hiệu quả hơn rất nhiều so với việc chỉ kêu gọi chung chung.
Thứ hai, cần có những đầu mối kết nối đáng tin cậy giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp trong nước với mạng lưới chuyên gia ở nước ngoài. Tôi cho rằng, các mạng lưới tri thức của người Việt ở từng quốc gia có thể đóng vai trò rất hữu ích trong việc này.
Thứ ba, nên tạo điều kiện cho các hình thức hợp tác linh hoạt hơn. Không phải chuyên gia nào ở nước ngoài cũng có thể về Việt Nam trong thời gian dài. Nhưng họ hoàn toàn có thể tham gia giảng dạy trực tuyến, đồng hướng dẫn nghiên cứu, tư vấn chương trình, tham gia các dự án ngắn hạn hoặc kết nối tổ chức của mình với đối tác trong nước.
Cuối cùng, tôi nghĩ cần nhìn nhận đây là quá trình hai chiều. Kiều bào có thể mang tri thức và kinh nghiệm quốc tế về Việt Nam, nhưng đồng thời chúng tôi cũng học được rất nhiều từ Việt Nam. Chính sự trao đổi hai chiều đó mới tạo ra những mối quan hệ hợp tác lâu dài và bền vững.
PV: Một điểm đáng chú ý khác của Nghị quyết 23 đó là đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai; đồng thời khẳng định Đảng, Nhà nước luôn lắng nghe những ý kiến đóng góp xây dựng vì lợi ích quốc gia-dân tộc. Theo chị, thông điệp này có ý nghĩa như thế nào đối với cộng đồng người Việt tại New Zealand trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc?
Chị Nguyễn Lam Giang: Tôi nghĩ tinh thần hòa hợp và lắng nghe có ý nghĩa rất lớn đối với bất kỳ cộng đồng nào, đặc biệt là một cộng đồng người Việt ở nước ngoài với nhiều thế hệ và hoàn cảnh khác nhau. Tại New Zealand, cộng đồng người Việt ngày càng đa dạng. Có những người đã sinh sống ở đây nhiều thế hệ, có những người mới sang học tập, làm việc, kinh doanh hoặc nghiên cứu. Mỗi nhóm có những trải nghiệm và góc nhìn khác nhau.
Theo tôi, điều quan trọng là tạo được những không gian để mọi người có thể gặp gỡ, chia sẻ và cùng đóng góp theo khả năng của mình. Chúng ta không nhất thiết phải giống nhau về trải nghiệm hay quan điểm mới có thể cùng làm những việc có ích cho cộng đồng và cho quan hệ giữa Việt Nam với New Zealand.
Từ góc độ xây dựng cộng đồng tri thức, tôi đặc biệt tin vào sức mạnh của đối thoại và kết nối. Khi chúng ta biết lắng nghe nhau và tập trung vào những giá trị chung, sự khác biệt có thể trở thành nguồn lực thay vì trở thành khoảng cách.
PV: Chị kỳ vọng điều gì sẽ diễn ra sau khi Nghị quyết 23 ra đời?
Chị Nguyễn Lam Giang: Điều tôi kỳ vọng nhất là những định hướng của Nghị quyết 23 sẽ ngày càng được cụ thể hóa thành những chương trình và cơ chế hợp tác thực chất, để cộng đồng người Việt ở nước ngoài có thể chủ động tham gia và đóng góp thuận lợi hơn.
Đối với lĩnh vực của tôi, tôi đặc biệt kỳ vọng sẽ có thêm nhiều chương trình hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các mạng lưới chuyên gia của người Việt ở nước ngoài. Điều tôi quan tâm nhất không phải là có bao nhiêu chương trình được ký kết, mà là sau những thỏa thuận đó sẽ có bao nhiêu hoạt động thực sự được triển khai: một chương trình đào tạo mới, một dự án nghiên cứu, một sáng kiến đổi mới sáng tạo, hay đơn giản là một nhóm chuyên gia ở hai nước cùng giải quyết một vấn đề cụ thể.
Tôi cũng kỳ vọng cộng đồng người Việt tại New Zealand sẽ ngày càng chủ động hơn trong việc kết nối và đóng góp. Nhà nước có thể tạo ra cơ chế, nhưng chính cộng đồng và các tổ chức, trường đại học, doanh nghiệp sẽ cùng biến những cơ hội đó thành kết quả cụ thể. Tôi tin rằng khi sự kết nối được duy trì lâu dài và dựa trên những nhu cầu thực tế, đóng góp của kiều bào sẽ ngày càng thiết thực và bền vững hơn.
PV: Theo chị, sau khi Nghị quyết 23 được ban hành, cộng đồng người Việt tại New Zealand có thể đóng góp trên khía canh nào vào việc phát triển cộng đồng ở sở tại và đóng góp vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước?
Chị Nguyễn Lam Giang: Tôi nghĩ cộng đồng người Việt ở nước ngoài có một lợi thế rất đặc biệt: chúng tôi có thể đóng góp cho cả hai xã hội và đồng thời tạo ra những kết nối giữa hai bên.
Ở New Zealand, trước hết người Việt cần tiếp tục hội nhập, làm việc chuyên nghiệp, tuân thủ pháp luật và đóng góp tích cực cho cộng đồng sở tại. Thành công của mỗi người Việt trong học tập, nghiên cứu, kinh doanh hay nghề nghiệp cũng góp phần xây dựng hình ảnh của cộng đồng người Việt Nam tại New Zealand.
Ở chiều ngược lại, chúng tôi có thể mang những kiến thức, kinh nghiệm và mạng lưới đã tích lũy tại New Zealand để kết nối với Việt Nam. Với những người làm trong giáo dục đại học, đó có thể là hợp tác đào tạo, nghiên cứu, trao đổi sinh viên và giảng viên, phát triển kỹ năng hoặc kết nối các trường đại học và doanh nghiệp.
Nhưng tôi nghĩ vai trò của cộng đồng không chỉ nằm trong giáo dục. Người Việt tại New Zealand đang làm việc trong rất nhiều lĩnh vực: kinh doanh, y tế, công nghệ, nông nghiệp, tài chính, luật, dịch vụ, nghiên cứu và nhiều ngành nghề khác. Mỗi người đều có một mạng lưới và một kinh nghiệm riêng có thể trở thành cầu nối.
Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam và New Zealand đang bước vào một giai đoạn hợp tác mới, với giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực được đặt ở vị trí quan trọng, tôi nghĩ cộng đồng người Việt có thể đóng vai trò rất thiết thực trong việc biến những kết nối giữa hai nước thành những hợp tác cụ thể. Với cá nhân tôi, đó cũng là điều tôi muốn theo đuổi: kết nối con người, kết nối tri thức và kết nối cơ hội để tạo ra những giá trị tích cực cho cả Việt Nam và New Zealand.
PV: Xin trân trọng cảm ơn chị!