Đổi mới bảo tàng: Khi tư liệu hiện vật, di sản được “đóng gói” mang tới công chúng
VOV.VN - Xóa bỏ rào cản địa lý và những bức tường kính trầm mặc, nhiều bảo tàng hiện nay đã chủ động mang tư liệu, hiện vật ra khỏi không gian trưng bày cố định để đến tận trường học, nhà máy, không gian công cộng hay các bản làng vùng sâu vùng xa.
Bước chuyển dịch tư duy của các bảo tàng từ “chờ đợi khách” sang “chủ động tiếp cận cộng đồng” không chỉ mở ra sức sống mới cho hoạt động bảo tàng mà còn khiến tư liệu, hiện vật, di sản văn hóa, lịch sử hiện hữu gần hơn trong đời sống xã hội.
Sân khấu hóa giúp bảo tàng “mở cửa” ra phố.
Nhiều thập kỷ qua, hình ảnh quen thuộc của bảo tàng trong tâm thức số đông thường gắn liền với sự im lìm, không gian khép kín và những hiện vật nằm im lìm sau lớp kính bảo vệ. Tư duy quản lý truyền thống vô hình trung tạo ra một khoảng cách nhất định giữa di sản và công chúng. Nhiều người dân, đặc biệt là công nhân tại các khu công nghiệp, học sinh ở vùng sâu vùng xa hay người lao động tự do, ít khi có điều kiện trực tiếp bước chân vào các không gian bảo tàng.
Nhận thức rõ vấn đề này, trong những năm gần đây, nhiều bảo tàng đã chủ động đổi mới phương thức tiếp cận công chúng, không chỉ chờ công chúng đến bảo tàng mà từng bước đưa những câu chuyện lịch sử, văn hóa đến với trường học và cộng đồng thông qua triển lãm lưu động, giáo dục trải nghiệm, sân khấu hóa lịch sử và ứng dụng công nghệ số.
"Sau thành công của triển lãm “Sen trong đá” trưng bày lần đầu tiên tại Côn Đảo, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã tiếp tục phát triển thành chương trình “Sen trong đá: Tâm sáng, lòng son” tại Trường THCS Ngô Sĩ Liên, thu hút hơn 600 học sinh và giáo viên tham gia. Các chương trình “Huyền thoại tuổi thanh xuân”, “Một thời hoa lửa” đã kết hợp tư liệu, hiện vật với sân khấu hóa tư liệu để tái hiện những câu chuyện về phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Đây là cách để lịch sử được kể bằng một ngôn ngữ gần gũi, giàu cảm xúc, góp phần khơi dậy lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm của thế hệ hôm nay", bà Nguyễn Thị Tuyết, Giám đốc Bảo tàng Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam chia sẻ.
Bên cạnh việc sân khấu hóa, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam còn chủ động đưa cộng đồng và những người thực hành di sản trực tiếp tham gia vào hoạt động bảo tàng. Thông qua các chương trình như “Sáp ong – Sắc chàm”, “Giữ màu di sản”, Bảo tàng kết nối những nghệ nhân phụ nữ dân tộc thiểu số với công chúng, để họ trực tiếp giới thiệu, hướng dẫn kỹ thuật vẽ sáp ong, nhuộm chàm và chia sẻ những câu chuyện văn hóa của cộng đồng mình. Khi đó, di sản không còn là những sản phẩm tĩnh được trưng bày, mà trở thành những tri thức, kỹ năng sống động được thực hành và trao truyền.
Không chỉ ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, hệ thống bảo tàng tại Việt Nam hiện nay đang trải qua một cuộc thay đổi tư duy mạnh mẽ. Giới chuyên môn văn hóa nhận định rằng giá trị của di sản không nằm ở những bức tường kiên cố hay quy mô của tòa nhà trưng bày, mà nằm ở khả năng lan tỏa và chạm tới cảm xúc của cộng đồng. Khi không gian trưng bày cố định không thể bao phủ hết mọi tầng lớp nhân dân, giải pháp tự nhiên và hiệu quả nhất là chủ động “mở cửa” đưa hiện vật, tư liệu từ trong cánh cửa bảo tàng ra phố, tìm đến với người xem.
Những hành trình mang di sản đến với cộng đồng
Thực tiễn triển khai thời gian qua ghi nhận hàng loạt mô hình triển lãm di động đầy sáng tạo. Điển hình như Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh hay Bảo tàng Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chuyến xe trưng bày chuyên đề lưu động. Những chiếc xe được thiết kế chuyên dụng như một “bảo tàng thu nhỏ”, tích hợp hệ thống tủ kính di động, hình ảnh tư liệu, màn hình trình chiếu và không gian đọc sách.
Tại Thừa Thiên Huế cùng nhiều địa phương khác, chương trình “Đưa bảo tàng về trường học” đã biến những khoảng sân trường quen thuộc thành phòng triển lãm trực quan. Thay vì tiếp thu kiến thức lịch sử qua những trang sách lý thuyết khô khan, học sinh được trực tiếp quan sát các phiên bản phục chế của hiện vật, lắng nghe những câu chuyện lịch sử gắn liền với đời sống địa phương và tham gia các hoạt động tương tác.
Không dừng lại ở trường học hay khu công nghiệp, không gian triển lãm di động còn vươn ra các khu vực sinh hoạt cộng đồng như công viên, phố đi bộ hay quảng trường trung tâm tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Việc đưa các pano hình ảnh, tư liệu lịch sử và các tác phẩm nghệ thuật ra không gian mở giúp người dân dễ dàng tiếp cận di sản ngay trong lúc thư giãn, đi dạo.
Bất kể là điểm trường vùng biên giới, một sân xưởng của khu chế xuất hay đồn biên phòng xa xôi, sự xuất hiện của những chuyến xe này đều mang lại bầu không khí học tập và trải nghiệm lịch sử vô cùng hào hứng.
Để hành những trình mang di sản đến với cộng đồng được duy trì lâu dài và liên tục đổi mới, các bảo tàng cần tiếp tục đa dạng hóa nguồn lực, hình thức tiếp cận công chúng thông qua cơ chế xã hội hóa, hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp, tổ chức giáo dục và các đơn vị công nghệ. Đồng thời, nội dung của các cuộc triển lãm lưu động cũng cần được thiết kế linh hoạt, “may đo” riêng cho từng nhóm công chúng mục tiêu.
Lực đẩy từ công nghệ và giải pháp “đóng gói” di sản
Một trong những yếu tố quan trọng giúp triển lãm di động bùng nổ và đạt hiệu quả cao trong những năm gần đây chính là nỗ lực đổi mới, sáng tạo các hình thức trưng bày, giới thiệu mới cùng sự hỗ trợ của công nghệ số. Trong quá khứ, việc di chuyển hiện vật gốc luôn đối mặt với rủi ro lớn về bảo quản, an ninh và chi phí vận chuyển. Ngày nay, sự phát triển của công nghệ thực tế ảo, quét 3D và các màn hình tương tác thông minh đã giải quyết trọn vẹn bài toán này.
“Chúng tôi cho rằng, đưa di sản đến với công chúng không đồng nghĩa với việc nhất thiết phải đưa hiện vật gốc ra khỏi bảo tàng. Điều quan trọng là chuyển tải được câu chuyện, ký ức và những giá trị văn hóa chứa đựng trong hiện vật”, Giám đốc Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Tuyết chia sẻ.
Bà Tuyết lấy ví dụ: Từ những tư liệu và câu chuyện về các nữ tù chính trị tại Côn Đảo, triển lãm “Sen trong đá”, “Trẻ em thời chiến”, “Phụ nữ Việt Nam – Những khoảnh khắc” được chuyển tải thành hoạt động giáo dục lịch sử trong trường học. Nội dung lịch sử cốt lõi vẫn được giữ gìn, nhưng cách thể hiện được điều chỉnh để phù hợp với học sinh, giúp các em hiểu và cảm nhận sâu sắc hơn về những giá trị đó.
Thực tế hiệu quả từ hình thức sân khấu hóa để tái hiện những câu chuyện lịch sử gắn với trưng bày hiện vật của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã mang lại hiệu quả lan tỏa mạnh mẽ. Thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, những ký ức lịch sử được kể lại một cách sinh động, giàu cảm xúc, giúp công chúng cảm nhận sâu sắc hơn về con người và những giá trị phía sau mỗi hiện vật.
Trực tiếp nhập vai trong tiết mục “Nữ thép kiêu hùng” trong khuôn khổ sự kiện “Thanh âm di sản” của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, sinh viên Đỗ Thị Thu Uyên xúc động: “Hóa thân vào nhân vật, em cảm thấy vô cùng tự hào và càng thêm trân trọng giá trị của hòa bình. Những trải nghiệm này giúp chúng em hiểu rằng hòa bình hôm nay được đổi bằng rất nhiều xương máu của thế hệ trước, và thế hệ trẻ hôm nay phải có trách nhiệm gìn giữ, phát huy các giá trị đó”.
Bạn Đặng Trần Châu Lương, học sinh lớp 8A5 Trường Trung học Cơ sở Ngô Sỹ Liên sau khi xem tiểu phẩm sân khấu hóa tại triển lãm “Sen trong đá: Tâm sáng, lòng son” do chính các bạn học cùng trường thực hiện, chia sẻ: “Sau khi xem chương trình ‘Sen trong đá’, con cảm thấy rất vui, tự hào và cũng cảm động trước hình ảnh của những người phụ nữ hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ đất nước”.
“Việc ứng dụng công nghệ số hóa 3D và mô hình “Bộ kit Di sản” cho phép công chúng quan sát, tương tác và khám phá hiện vật từ nhiều góc độ mà không cần trực tiếp tiếp xúc với hiện vật gốc, góp phần bảo đảm an toàn và mở rộng khả năng tiếp cận di sản. Công nghệ số giúp các bảo tàng hoàn toàn có thể “đóng gói” cả một không gian trưng bày quy mô lớn vào hệ thống máy tính bảng hoặc kính thực tế ảo gọn nhẹ. Khi đến với cộng đồng, người xem chỉ cần đeo kính VR là có thể “bước vào” không gian kiến trúc của một di tích quốc gia, xoay chuyển và ngắm nhìn chi tiết từng góc cạnh của một bảo vật quốc gia ở độ phân giải cao”, bà Nguyễn Thị Tuyết chia sẻ thêm.
Sự kết hợp giữa các phiên bản hiện vật phục chế chuẩn xác và các thiết bị số hóa linh hoạt đã tạo nên một trải nghiệm thị giác lẫn thính giác phong phú, giúp các buổi triển lãm di động vừa đảm bảo tính khoa học, vừa giàu sức hấp dẫn đối với giới trẻ.
Việc chủ động mang tư liệu, hiện vật đến với cộng đồng hoàn toàn không làm giảm đi vai trò của các bảo tàng truyền thống. Trái lại, đó chính là “chiếc cầu nối”, là sức hút kéo công chúng quay trở lại với bảo tàng gốc. Khi đã có những trải nghiệm ban đầu đầy ấn tượng tại triển lãm di động, người dân sẽ khao khát được một lần trực tiếp ghé thăm không gian trưng bày chính thức để tìm hiểu sâu hơn.