Nghị quyết số 26-NQ/TW sẽ nâng cao vị thế cho du lịch Việt Nam
VOV.VN - Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam là ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp trực tiếp từ 10 - 12% GDP, giữ vững vị thế nhóm đầu khu vực Đông Nam Á.
Nâng tầm du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị nêu rõ mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam là ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp trực tiếp từ 10 - 12% GDP, giữ vững vị thế nhóm đầu khu vực Đông Nam Á về quy mô và tốc độ tăng trưởng; phấn đấu đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, đặt trọng tâm vào thị trường khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày; tổng thu từ khách du lịch đạt 80 - 90 tỷ USD.
Theo PGS.TS Phạm Hồng Long (Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 ra đời trong bối cảnh ngành du lịch đã có những bước tiến dài sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/1/2017 của Bộ Chính trị.
Điểm đáng chú ý đầu tiên ở Nghị quyết 26 chính là sự kế thừa và nâng tầm tư duy chiến lược. Nếu như Nghị quyết 08 đặt nền móng trong việc nhìn nhận du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, thì Nghị quyết 26 đã xác lập một vị thế mới cho du lịch Việt Nam, ở đó du lịch không chỉ là ngành kinh tế mũi nhọn mà còn là một động lực tăng trưởng mới của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số".
“Nghị quyết cũng cho thấy sự chuyển dịch dứt khoát từ tư duy phát triển dựa trên số lượng sang chất lượng, lấy giá trị gia tăng, trải nghiệm khách hàng và tính bền vững làm thước đo cốt lõi. Đặc biệt, Nghị quyết 26 xác định lấy văn hóa, bản sắc dân tộc làm nền tảng cốt lõi, tạo lợi thế cạnh tranh, đồng thời lấy ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhân tố đột phá để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Điều này cho thấy tư duy quản trị đã bắt kịp với xu thế toàn cầu, không còn coi du lịch là một ngành dịch vụ đơn thuần mà là một hệ sinh thái kinh tế thông minh, tích hợp đa tầng giá trị”, PGS.TS Phạm Hồng Long phân tích.
Về mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế và đạt doanh thu 80 - 90 tỷ USD, PGS.TS Phạm Hồng Long cho rằng, đây là một mục tiêu đầy tham vọng nhưng có cơ sở khoa học và khả thi.
“Con số này phản ánh kỳ vọng về một sự tăng trưởng bứt phá, không chỉ gấp đôi về lượng khách mà còn gấp đôi về doanh thu so với năm 2025, điều này ngụ ý rằng mức chi tiêu bình quân của mỗi du khách phải tăng lên đáng kể. Cơ sở của mục tiêu này dựa trên dự báo về sự bùng nổ của thị trường du lịch khu vực châu Á - Thái Bình Dương và tầng lớp trung lưu tăng nhanh. Việt Nam với lợi thế về sự ổn định chính trị, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa hấp dẫn, nếu khai thác tốt sức mạnh mềm này và tạo ra được các sản phẩm độc đáo, cao cấp thì việc thu hút khách có khả năng chi trả cao là hoàn toàn khả thi”, PGS.TS Phạm Hồng Long nhận định.
Sức lan tỏa và vai trò động lực của ngành du lịch
Chia sẻ với VOV.VN, chuyên gia Martin Koerner - Giám đốc Thương mại Tập đoàn The Anam đánh giá Nghị quyết số 26-NQ/TW mở ra cơ hội lớn cho ngành du lịch Việt Nam trong thập kỷ tới. Việt Nam đã chứng minh được khả năng thu hút lượng lớn du khách. Bước tiếp theo là tạo ra nhiều lý do hơn để du khách ở lại lâu hơn, khám phá nhiều hơn trên hành trình tại Việt Nam và chi tiêu nhiều hơn cho những trải nghiệm có ý nghĩa.
Theo các chuyên gia, du lịch Việt Nam cần tạo ra một vòng tuần hoàn giá trị một cách tích cực. Khi du khách chi tiêu nhiều hơn, điều đó cần góp phần tạo ra những việc làm tốt hơn, các doanh nghiệp địa phương phát triển mạnh hơn, cộng đồng được hưởng lợi nhiều hơn, đồng thời bảo tồn văn hóa và môi trường - những yếu tố đã thu hút du khách đến Việt Nam ngay từ đầu. Đó chính là cách việc gia tăng giá trị của du lịch có thể chuyển hóa thành những giá trị kinh tế và xã hội lâu dài cho điểm đến.
“Một du khách lưu trú 7 đêm thay vì 3 đêm không chỉ tạo thêm doanh thu cho khách sạn. Họ còn chi tiêu nhiều hơn cho nhà hàng, chăm sóc sức khỏe, phương tiện di chuyển, các chuyến tham quan, giải trí, mua sắm và những trải nghiệm địa phương. Vì vậy, tác động kinh tế được lan tỏa rộng hơn rất nhiều so với phạm vi của một khách sạn”, ông Martin Koerner phân tích.
Bên cạnh đó, du lịch Việt Nam cũng nên tránh việc cạnh tranh chủ yếu bằng giá rẻ. Tăng trưởng du lịch bền vững đòi hỏi sự tự tin để đưa ra mức giá phù hợp khi chất lượng và trải nghiệm thực sự tương xứng. Nếu Việt Nam có thể từng bước tăng cả thời gian lưu trú và mức chi tiêu bình quân của mỗi du khách, đồng thời duy trì mức độ hài lòng cao, đóng góp kinh tế của ngành du lịch có thể tăng đáng kể, mà không chỉ phụ thuộc vào việc liên tục gia tăng số lượng du khách.
“Các khu nghỉ dưỡng của chúng tôi cạnh tranh dựa trên trải nghiệm và chất lượng, thay vì chỉ dựa vào giá. Đó là việc kết hợp dịch vụ lưu trú chất lượng cao với văn hóa, ẩm thực, chăm sóc sức khỏe, hoạt động giải trí và những trải nghiệm mang đậm bản sắc Việt Nam, khuyến khích du khách khám phá và gắn kết sâu hơn với điểm đến. Từ các trải nghiệm ẩm thực Việt Nam, lớp học nấu ăn đến chăm sóc sức khỏe, tour khám phá văn hóa, tiệc cưới và sự kiện MICE, chúng tôi muốn mang đến cho du khách nhiều lý do để ở lại lâu hơn và trải nghiệm nhiều hơn trong mỗi chuyến đi.
Quan trọng là, du lịch giá trị cao không đơn giản có nghĩa là mức giá phòng cao hơn. Đó phải là một trải nghiệm tốt hơn, chất lượng dịch vụ cao hơn, tính chân thực và bản sắc mạnh mẽ hơn, đồng thời tạo ra nhiều giá trị hơn cho toàn bộ điểm đến”, ông Martin Koerner chia sẻ.