Tăng trưởng hai con số năm 2027: Áp lực từ lạm phát, vốn và năng lực thực thi
VOV.VN - Năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng tích cực trong bối cảnh thế giới nhiều biến động. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, nhập siêu gia tăng, đầu tư tư nhân chưa bứt phá và tiến độ giải ngân nguồn lực còn chậm đang đặt ra thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027.
Tăng trưởng cao nhưng nền tảng chưa vững, áp lực vĩ mô gia tăng
Sáng 17/10, tại phiên Khai mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi trình bày Báo cáo Thẩm tra tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027. Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản thống nhất với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, nhưng lưu ý thách thức lớn khi nền tảng tăng trưởng chưa vững chắc, áp lực lạm phát, nhu cầu vốn và năng lượng gia tăng.
Theo đó, năm 2026 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030. Trong bối cảnh xung đột địa chính trị, phân mảnh thương mại, cạnh tranh công nghệ và biến động năng lượng, tài chính gia tăng, nền kinh tế phải đồng thời theo đuổi mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Dự kiến, có 9/15 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch, 5 chỉ tiêu phấn đấu đạt, trong khi chỉ tiêu giảm nghèo đa chiều dự kiến chưa đạt. GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01%; xuất khẩu tăng 24,5%; vốn FDI thực hiện tăng 12,1%. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm; tiến độ triển khai nhiều công trình hạ tầng chiến lược được thúc đẩy, các dự án tồn đọng từng bước được tháo gỡ.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính đánh giá cao sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra lưu ý, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng vẫn là vấn đề cần quan tâm.
Đáng chú ý, 4 địa phương có quy mô kinh tế lớn nhất gồm TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng và Đồng Nai, chiếm gần 47% tổng GRDP, đều dự kiến không đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2026. Đầu tư tư nhân chiếm 53% tổng vốn đầu tư toàn xã hội nhưng chỉ tăng 14%, thấp nhất trong ba khu vực.
Trong khi đó, xuất khẩu tăng 24,5% nhưng nhập khẩu tăng 36,7%, khiến cán cân thương mại nhập siêu 19,42 tỷ USD. Xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, trong khi công nghiệp hỗ trợ, tỷ lệ nội địa hóa và năng lực làm chủ công nghệ còn hạn chế. Năng suất lao động cải thiện chậm, giá trị gia tăng tạo ra trong nước chưa tương xứng với quy mô tăng trưởng.
Theo Ủy ban Kinh tế và Tài chính, những hạn chế này cho thấy tăng trưởng kinh tế chưa đi đôi với nâng cao đầy đủ năng suất, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế. Áp lực ổn định kinh tế vĩ mô là một trong những vấn đề được đặc biệt lưu ý. CPI bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,52%, tiệm cận mục tiêu khoảng 4,5% của cả năm; riêng quý III tăng 4,8%. Trong khi giá hàng hóa, dịch vụ thiết yếu tăng, sức mua thực tế phục hồi chậm.
Cùng với đó, tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức cao, trong khi thị trường vốn chưa đáp ứng tương xứng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Điều này khiến áp lực cung ứng vốn dồn lên hệ thống ngân hàng, làm gia tăng nguy cơ mất cân đối kỳ hạn và áp lực thanh khoản.
Rủi ro giữa ngân hàng, trái phiếu doanh nghiệp và bất động sản có tính liên thông, có thể khuếch đại lẫn nhau. Trong bối cảnh đó, dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ ngày càng hạn chế, đòi hỏi điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ và giá cả phải thận trọng, phối hợp chặt chẽ.
Nguồn lực đầu tư chưa được phát huy tương xứng với kỳ vọng. Giải ngân đầu tư công 9 tháng đạt 62,9% kế hoạch, nhưng vốn tạm ứng chưa thu hồi chiếm tới 37% số vốn đã giải ngân. Mới khoảng 58% vốn ngân sách trung ương đã thông báo cho giai đoạn 2026 - 2030 được hoàn thiện thủ tục đầu tư. Cả nước còn 1.131 dự án tồn đọng đã có phương án nhưng chưa hoàn thành tháo gỡ.
Trong lĩnh vực năng lượng, các dự án nguồn điện, lưới truyền tải, nhất là điện LNG, triển khai chậm; năng lực dự trữ năng lượng còn hạn chế, tiềm ẩn rủi ro đối với an ninh năng lượng.
Đối với khoa học, công nghệ, dù đã bố trí khoảng 95.000 tỷ đồng, sau 9 tháng mới giải ngân 37,26% số vốn đã phân bổ, còn khoảng 24.000 tỷ đồng chưa được phân bổ. Đầu tư cho công nghệ chiến lược chưa tương xứng với yêu cầu phát triển.
Doanh nghiệp khó khăn, điểm nghẽn thực thi chưa được tháo gỡ
Khu vực doanh nghiệp và hộ kinh doanh tiếp tục đối mặt nhiều sức ép. Trong 9 tháng năm 2026, số doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường giảm 3,2%, trong khi số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tăng 118,8%.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, chịu áp lực từ chi phí đầu vào, logistics và chi phí tuân thủ. Hộ kinh doanh cũng phải thích ứng với sức mua phục hồi chậm, yêu cầu chuyển đổi số, quản trị và chính sách thuế. Những khó khăn này tác động trực tiếp đến đầu tư, việc làm, thu nhập và sức cầu trong nước.
Cải cách thể chế được đẩy mạnh nhưng tổ chức thực thi vẫn là điểm nghẽn. Việc sửa đổi, ban hành khối lượng lớn văn bản pháp luật trong thời gian ngắn đặt ra yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ, ổn định và khả thi của môi trường đầu tư, kinh doanh.
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp cơ bản vận hành thông suốt, song chất lượng thực hiện chưa đồng đều, nhất là ở cấp xã. Tại một số nơi, phân cấp, phân quyền chưa đi kèm đầy đủ nguồn lực, nhân lực và trách nhiệm thực thi, có nguy cơ khiến điểm nghẽn từ cấp trên dịch chuyển xuống cơ sở.
Bên cạnh những vấn đề về kinh tế, chất lượng phát triển xã hội cũng chưa đồng đều. Tình trạng thiếu nhân lực chất lượng cao, tỷ trọng lao động phi chính thức lớn, thất nghiệp thanh niên còn cao và chênh lệch trong tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế giữa các vùng tiếp tục đặt ra yêu cầu phải gắn tăng trưởng với tiến bộ xã hội. Hàng giả, thuốc giả, mất an toàn thực phẩm, lừa đảo trên không gian mạng, ô nhiễm môi trường và thiên tai tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống người dân.
Cần kịch bản khả thi
Từ thực tế trên, Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực, khắc phục những hạn chế mang tính cơ cấu về năng suất, năng lực nội tại và tổ chức thực hiện.
Cơ quan thẩm tra đề nghị xây dựng kịch bản tăng trưởng theo từng ngành, địa phương; đánh giá sát khả năng kiểm soát CPI khoảng 4,5% và tính khả thi của các cân đối lớn. Kế hoạch điều hành cần tính đến nguy cơ giá năng lượng duy trì ở mức cao, áp lực lạm phát gia tăng, đồng thời có phương án dự phòng trước những biến động bất lợi.
Các giải pháp trọng tâm gồm giữ ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao giá trị gia tăng trong nước, bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển hạ tầng chiến lược và chuyển đầu tư khoa học, công nghệ sang sản phẩm ứng dụng thực tế. Ủy ban nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ trách nhiệm, thời hạn, nguồn lực và kết quả đầu ra của từng nhiệm vụ, gắn trách nhiệm người đứng đầu với hiệu quả thực thi, bảo đảm tăng trưởng cao đi đôi với phát triển bền vững, cụ thể:
Một là, kiên định giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, coi đây là điều kiện tiên quyết của tăng trưởng cao; đặt yêu cầu phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ và điều hành giá ở vị trí trung tâm. Phát huy vai trò chủ động của tài khóa có trọng tâm, sử dụng thận trọng dư địa tiền tệ, xác định ngưỡng an toàn của từng công cụ; kiểm soát chất lượng tín dụng, nợ xấu, thanh khoản vàcógiảipháp phát triển thị trường vốn để giảm phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng.
Hai là, đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao giá trị gia tăng trong nước. Khơi thông, phân bổ và sử dụng đồng bộ, hiệu quả các nguồn lực từ đầu tư công, đầu tư tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, FDI và thị trường tài chính. Tập trung giải pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, nhất là tiếp cận vốn, giảm chi phí đầu vào, chi phí logistics và chi phí tuân thủ; tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng; bảo đảm các giải pháp cót ính khả thi, sử dụng hiệu quả nguồnlực và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.
Phát triển công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ; thu hút FDI có chọn lọc, gắn với chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa và nâng tỷ lệ nội địa hóa. Đồng thời, củng cố sức cầu trong nước; kiểm soát gian lận thương mại; mở rộng xuất khẩu, tận dụng các FTA và chủ động ứng phó rào cản thương mại, tiêu chuẩn xanh. Khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, đưa Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng vào hoạt động thực chất, hiệu quả, góp phần thu hút dòng vốn quốc tế.
Ba là, ưu tiên hạ tầng chiến lược và an ninh năng lượng. Tập trung dự án hạ tầng liên vùng, giảm chi phí logistics và mở rộng không gian phát triển. Bảo đảm đồng bộ nguồn điện, lưới điện, LNG, nhiên liệu, dự trữ và phương án dự phòng. Xử lý thực chất các dự án tồn đọng để tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực có năng suất và sức lan tỏa cao. Coi an ninh năng lượng là điều kiện nền tảng của tăng trưởng cao.
Bốn là, chuyển trọng tâm đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từ chú trọng nguồn lực đầu vào sang tạo ra sản phẩm ứng dụng, nâng cao năng suất và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Ưu tiên công nghệ chiến lược, dữ liệu dùng chung, đặt hàng theo kết quả; đào tạo nhân lực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng gắn với nhu cầu doanh nghiệp. Hoàn thiện cơ chế sử dụng hiệu quả Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp.
Năm là, hoàn thiện thể chế phải chuyển từ số lượng văn bản ban hành sang hiệu quả thực thi. Xử lý chồng chéo pháp luật, phân cấp gắn với nguồn lực, năng lực thực thi, trách nhiệm giải trình. Lấy kết quả giải quyết công việc, giảm chi phí tuân thủ và nguồn lực được khơi thông làm thước đo cải cách.
Sáu là, gắn tăng trưởng cao với phát triển văn hóa, xã hội. Chú trọng việc làm bền vững, giảm nghèo thực chất, quan tâm khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu, chênh lệch vùng miền và tính bền vững của hệ thống an sinh trong bối cảnh cơ cấu dân số thay đổi nhanh. Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, ưu tiên xử lý ô nhiễm không khí, nguồn nước và tình trạng ngập úng. Bảo đảm quốc phòng, an ninh kinh tế, an ninh dữ liệu; nâng cao hiệu quả đối ngoại, chuẩn bị năm APEC 2027.