Những cửa ô, những “khải hoàn môn” của Hà Nội

VOV.VN - Một đô thị hiện đại không chỉ được đo bằng chiều cao của những tòa nhà, mà còn bằng chiều sâu của ký ức... Hà Nội đã có “khải hoàn môn” của riêng mình, chúng ta có nhận ra hay chưa?

Những ngày này, câu chuyện “khải hoàn môn” đang nóng trên mặt báo và mạng xã hội: Từ 7 đến 26/9, Hà Nội lấy ý kiến người dân về một công trình biểu tượng cao 36 mét bên hồ Gươm, lấy cảm hứng từ đôi cánh chim hạc, dự kiến đặt gần quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Người ủng hộ có, người băn khoăn cũng có.

Nhân lúc cả thành phố đang bàn chuyện “khải hoàn môn”, xin nhắc lại một chuyện cũ: Hà Nội nếu muốn có một “khải hoàn môn” thì chẳng cần đi tìm đâu xa – thứ chúng ta đang tìm, ông cha đã để sẵn từ mấy trăm năm trước.

Chỉ có điều, người Hà Nội không gọi chúng là khải hoàn môn, mà gọi bằng một cái tên giản dị: Cửa ô. Cửa ô không đồ sộ, không có những hàng cột khổng lồ, cũng không có tượng đài để người ta nhắc nhớ về một chiến thắng. Nhưng phía sau hai chữ “cửa ô” là cả một phần lịch sử của Thăng Long – Hà Nội.

Và nếu cần một hình ảnh vừa mang tính biểu tượng, vừa gần gũi, có lẽ không gì hợp hơn câu hát trong ca khúc Tiến về Hà Nội của nhạc sĩ Văn Cao: “Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về…”. Chỉ một câu hát ấy đã khiến “cửa ô” vượt ra khỏi ý nghĩa một địa danh, trở thành hình ảnh của ngày trở về, của chiến thắng, của một Hà Nội đón những người con sau những tháng năm khói lửa.

Càng thú vị hơn khi biết Văn Cao viết ca khúc ấy năm 1949 – 5 năm trước ngày đoàn quân thực sự tiến về giải phóng Thủ đô, tháng 10/1954. Chưa từng chứng kiến ngày ấy, ông đã hình dung đúng: năm cửa ô cùng rộng mở đón đoàn quân tiến về.

Trong hình dung ngày nay, một cánh cổng thường chỉ có một chức năng đơn giản: Mở ra để đi vào, đóng lại để đi ra. Cửa ô của Thăng Long xưa không đơn giản như vậy. Đó là những điểm kiểm soát, những cửa ngõ của kinh thành, nằm trên các tuyến đường nối trung tâm với làng mạc và các vùng lân cận. Chúng là một phần của hệ thống phòng thủ – ngăn giặc ngoại xâm, giữ an ninh, kiểm soát người ra vào, phòng cả bệnh dịch lẫn cướp bóc.

Người Pháp khi chiếm đóng Hà Nội cũng ghi nhận những dấu tích thành lũy bao quanh kinh thành kéo dài hàng chục ki-lô-mét với nhiều cửa ngõ, đánh dấu địa giới nội đô. Nhưng cửa ô đồng thời cũng là tuyến giao thông huyết mạch nối kẻ chợ với bên ngoài: Người từ các vùng quê mang sản vật vào kinh thành, người từ kinh thành tỏa đi các nơi.

Và quan trọng hơn, đó là nơi các dòng người gặp nhau, mang theo hàng hóa, nghề nghiệp, tiếng nói, phong tục và cả những câu chuyện của quê mình. Cửa ô vì thế không chỉ bảo vệ Thăng Long mà còn góp phần làm nên một Thăng Long luôn vận động, luôn tiếp nhận và biến đổi. Nếu phố phường là những mạch máu thì cửa ô chính là những điểm nối đưa dòng người và dòng văn hóa vào thành phố.

Cụm từ “năm cửa ô” rất nổi tiếng, nhưng lịch sử kể một con số khác. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, cửa ô sớm nhất hình thành từ thời vua Trần Anh Tông, thế kỷ 14. Đầu thế kỷ 19, “Bắc Thành địa dư chí lục” chép Thăng Long từng có tới 21 cửa ô; năm 1831 còn 16; năm 1866 còn 15.

Các cửa ô xuất hiện, đổi tên rồi mất đi cùng sự thay đổi của thành phố. Qua từng biến động lịch sử, những cánh cửa dần khép lại, để hôm nay chỉ còn là những cái tên: Ô Cầu Dền, Ô Đông Mác, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Giấy, Ô Hàng Đậu…

Những cái tên ấy ngày nay đôi khi khiến người ta tưởng chỉ là tên đường, tên phố. Nhưng mỗi cái tên đều có thể xem như một “mảnh hóa thạch” của ký ức đô thị Hà Nội.

Người đi qua Ô Chợ Dừa mỗi ngày có thể chẳng nghĩ rằng nơi ấy từng là cửa ngõ của kinh thành; người qua Cầu Giấy chỉ quan tâm hôm nay đường có tắc không; người qua Đông Mác chỉ mong đèn xanh bật nhanh hơn một chút.

Nói vui một chút, những cái tên ấy chẳng hề xa lạ, chỉ có điều giờ chúng xuất hiện trong bản tin giờ cao điểm đều đặn hơn trong sách sử. Ông cha đặt cửa ô để kiểm soát người ra vào cho có trật tự; mấy trăm năm sau, con cháu vẫn điều tiết đúng những điểm ấy, chỉ khác là bằng đèn tín hiệu thay vì lính canh.

Dưới lớp nhựa đường và dòng xe cộ hôm nay là trầm tích của một Hà Nội khác – Hà Nội của thành lũy, cửa thành và những biến động kéo dài hàng trăm năm. Lịch sử ở thành phố này không phải lúc nào cũng nằm trong bảo tàng; nhiều khi nó nằm ngay dưới bánh xe chúng ta di chuyển mỗi ngày.

Trong số những trầm tích, những cửa ô ấy, Ô Quan Chưởng là dấu tích tiêu biểu nhất còn tồn tại đến ngày nay. Lý lịch của nó khá đáng nể: Dựng năm 1749 đời vua Lê Hiển Tông, xây lại với dáng vẻ như hiện nay vào năm 1817, dưới triều Gia Long. Cái tên “Quan Chưởng” gắn với cuối năm 1873: khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, một viên Chưởng cơ cùng khoảng 100 binh lính nhà Nguyễn đã tử thủ ngay tại đây, không lùi bước. Về sau, người Hà Nội gọi cửa ô bằng chính chức danh của ông, như một cách để không quên, Ô Quan Chưởng.

Đứng trước Ô Quan Chưởng hôm nay, rất khó hình dung khu vực xung quanh từng là một không gian hoàn toàn khác: không dòng xe ken đặc, không nhà cao tầng, không biển quảng cáo hay tiếng còi liên tục. Chính sự tương phản ấy làm nó trở nên đặc biệt – như một người già đứng giữa phố đông, lặng lẽ nhìn thành phố thay đổi. Người qua đường có thể vội vàng, còn cánh cửa thì không.

Nếu một công trình có thể kể chuyện, Ô Quan Chưởng hẳn có rất nhiều chuyện: về những đoàn quân, những người buôn bán, những người rời kinh thành và những người trở về. Một cánh cổng bằng gạch mang trong mình câu chuyện bi tráng như thế, thử hỏi có “khải hoàn môn” nào xây mới mà sánh được?

Khi nói đến một “khải hoàn môn” của Hà Nội, chúng ta dễ hình dung một công trình mới, to lớn, hoành tráng, đủ sức trở thành điểm nhấn của thành phố. Điều đó hoàn toàn có thể. Nhưng cũng có một cách khác: Nhìn lại những gì Hà Nội đã có.

Một biểu tượng đô thị không nhất thiết phải là thứ vừa được xây dựng. Đôi khi giá trị lớn nhất của nó nằm ở chỗ đã tồn tại đủ lâu để trở thành ký ức của nhiều thế hệ. Những cửa ô đều là chứng tích của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc – bản thân chúng đã là niềm tự hào, đã tôn vinh chiến thắng của cha ông.

Vậy nên, thay vì chỉ xây mới, tại sao không nghĩ đến việc phục dựng những cửa ô lịch sử? Không cần máy móc, cũng không cần biến mỗi cửa ô thành một công trình khổng lồ. Chỉ cần đúng tinh thần kiến trúc lịch sử, đặt trong không gian đô thị phù hợp, kèm bảng thông tin, câu chuyện và tư liệu để người dân hiểu rằng: “À, hóa ra nơi này từng là một cửa ngõ quan trọng của Thăng Long”.

Khi ấy, mỗi cửa ô có thể trở thành một điểm kể chuyện: Ô Chợ Dừa về cửa ngõ phía Tây Nam, Ô Cầu Giấy về vùng đất phía Tây, Ô Cầu Dền, Ô Đông Mác, Ô Hàng Đậu… mỗi nơi một lát cắt lịch sử khác nhau. Làm tốt, chúng ta không chỉ có một “khải hoàn môn”, mà có cả một mạng lưới “khải hoàn môn” lịch sử.

Thử hình dung một hành trình xuyên năm cửa ô, nối Ô Quan Chưởng với Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Giấy, Ô Cầu Dền, Ô Đông Mác, để người Hà Nội và du khách đạp xe, đi bộ, ghé trà đá vỉa hè ở mỗi điểm dừng. Tối đến, mỗi cửa ô lên đèn theo lối kiến trúc riêng, thành điểm hẹn của khu phố quanh đó – chứ không chỉ là một cái tên trên biển báo giao thông.

“Năm cửa ô” đã tồn tại rất lâu trong tâm thức người Hà Nội, đặc biệt từ khi câu hát của Văn Cao trở thành một phần ký ức âm nhạc của cả dân tộc. Số lượng cửa ô ấy không nhất thiết phải hiểu thật chính xác về mặt lịch sử; nó còn là một hình ảnh nghệ thuật về Hà Nội, về ngày chiến thắng.

Biết đâu chúng ta sẽ có lại đúng năm cửa ô, năm “khải hoàn môn”, như năm cánh của ngôi sao trên lá cờ Tổ quốc.

Điều quan trọng vì thế không phải là “xây một cái gì thật to”, mà là làm sao để mỗi cửa ô trở thành một câu chuyện: Nơi để người Hà Nội tự hào, để du khách hiểu thêm về thành phố, để trẻ em biết rằng cái tên mình nghe mỗi ngày không phải tự nhiên mà có, và để người lớn tuổi tìm lại một phần ký ức.

Thay vì chỉ vài điểm đến lịch sử tập trung quanh Hồ Gươm, Hà Nội có thể có một chuỗi “cánh cửa ký ức” trải theo các hướng của thành phố. Đi qua mỗi cửa ô là đi qua một lát cắt lịch sử; khi ấy, cả thành phố trở thành một bảo tàng sống.

Hà Nội không thiếu biểu tượng: Hồ Gươm, Tháp Rùa, cầu Long Biên, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long… Nhưng thành phố còn có một hệ thống biểu tượng bình dị hơn, những cái tên vẫn sống trong lời ăn tiếng nói hằng ngày: Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dền, Ô Đông Mác, Ô Cầu Giấy, Ô Hàng Đậu và Ô Quan Chưởng. Chúng là ký ức của thành phố được giữ lại trong ngôn ngữ.

Bởi vậy, câu hỏi có lẽ không phải là Hà Nội có cần một “khải hoàn môn” hay không, mà là: Hà Nội đã có những “khải hoàn môn” của riêng mình rồi, chúng ta có nhận ra hay chưa?

Nếu muốn xây một biểu tượng mới, hoàn toàn có thể. Nhưng phục dựng những cửa ô cũ, với kiến trúc, câu chuyện và không gian văn hóa phù hợp, là một lựa chọn rất đáng suy nghĩ. Bởi khi ấy, chúng ta không chỉ xây một công trình – chúng ta dựng lại một phần ký ức.

Và những “khải hoàn môn” ấy không chỉ nói về một chiến thắng; chúng nói về cả hành trình của Hà Nội: Từ một kinh thành cổ, qua những tháng năm binh lửa, đến một đô thị hiện đại đang từng ngày thay đổi.

Hà Nội rồi sẽ có những công trình mới rất đẹp, rất hiện đại. Nhưng giữa những tòa nhà cao tầng, vẫn rất cần những cánh cửa để thành phố nhớ mình đã từng là ai. Bởi một đô thị hiện đại không chỉ được đo bằng độ cao của những tòa nhà, mà còn bằng chiều sâu của ký ức.

Và biết đâu, một ngày không xa, khi có ai hỏi Hà Nội có khải hoàn môn không, câu trả lời sẽ không phải một công trình vừa cắt băng khánh thành, mà là năm cái tên đã theo chân người Hà Nội qua bao thế hệ – vừa quen, vừa thiêng, như bát phở buổi sáng, như tiếng rao đêm trên phố cổ. Khi ấy, năm cửa ô sẽ là năm “khải hoàn môn” của Hà Nội: Năm cánh cửa mở vào lịch sử, mở ra hiện tại và hướng tới tương lai.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Khai Văn: Tôn vinh đạo học, lan tỏa tinh thần hiếu học và khát vọng cống hiến
Khai Văn: Tôn vinh đạo học, lan tỏa tinh thần hiếu học và khát vọng cống hiến

VOV.VN - Tối 12/9, chương trình nghệ thuật Khai Văn đã chính thức diễn ra tại Vườn Giám, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Chương trình hướng tới kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám 1076 – 2026.

Khai Văn: Tôn vinh đạo học, lan tỏa tinh thần hiếu học và khát vọng cống hiến

Khai Văn: Tôn vinh đạo học, lan tỏa tinh thần hiếu học và khát vọng cống hiến

VOV.VN - Tối 12/9, chương trình nghệ thuật Khai Văn đã chính thức diễn ra tại Vườn Giám, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Chương trình hướng tới kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám 1076 – 2026.

Hướng về thành phố xa xưa: Tôn vinh di sản hai thập niên tân nhạc Hà Nội
Hướng về thành phố xa xưa: Tôn vinh di sản hai thập niên tân nhạc Hà Nội

VOV.VN - Hướng về thành phố xa xưa, chương trình trưng bày và tọa đàm về hai thập niên tân nhạc Hà Nội (1934 -1954) khai mạc tối 12/9/2026 tại Bảo tàng Hà Nội. Đây là một hoạt động ý nghĩa trong khuôn khổ Festival Thăng Long - Hà Nội 2026, góp phần lan tỏa di sản âm nhạc Thủ đô đến đông đảo công chúng.

Hướng về thành phố xa xưa: Tôn vinh di sản hai thập niên tân nhạc Hà Nội

Hướng về thành phố xa xưa: Tôn vinh di sản hai thập niên tân nhạc Hà Nội

VOV.VN - Hướng về thành phố xa xưa, chương trình trưng bày và tọa đàm về hai thập niên tân nhạc Hà Nội (1934 -1954) khai mạc tối 12/9/2026 tại Bảo tàng Hà Nội. Đây là một hoạt động ý nghĩa trong khuôn khổ Festival Thăng Long - Hà Nội 2026, góp phần lan tỏa di sản âm nhạc Thủ đô đến đông đảo công chúng.

Nét Hà thành - Áo dài kể chuyện di sản văn hóa Hà Nội
Nét Hà thành - Áo dài kể chuyện di sản văn hóa Hà Nội

VOV.VN - Sáng 11/9, chương trình “Nét Hà thành - Câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài” diễn ra tại khu vực Hồ Văn, Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Đây là một hoạt động do Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức trong khuôn khổ Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026.

Nét Hà thành - Áo dài kể chuyện di sản văn hóa Hà Nội

Nét Hà thành - Áo dài kể chuyện di sản văn hóa Hà Nội

VOV.VN - Sáng 11/9, chương trình “Nét Hà thành - Câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài” diễn ra tại khu vực Hồ Văn, Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Đây là một hoạt động do Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức trong khuôn khổ Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026.

Khai mạc triển lãm “Lưu trăng”: Lung linh sắc màu Tết Trung thu giữa lòng phố cổ
Khai mạc triển lãm “Lưu trăng”: Lung linh sắc màu Tết Trung thu giữa lòng phố cổ

VOV.VN - Đón Tết Trung thu, tối 10/9, tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật (22 Hàng Buồm, Hà Nội), triển lãm “Lưu trăng” đã chính thức mở cửa, mang đến cho người dân Thủ đô và du khách một không gian nghệ thuật lung linh, rực rỡ sắc màu.

Khai mạc triển lãm “Lưu trăng”: Lung linh sắc màu Tết Trung thu giữa lòng phố cổ

Khai mạc triển lãm “Lưu trăng”: Lung linh sắc màu Tết Trung thu giữa lòng phố cổ

VOV.VN - Đón Tết Trung thu, tối 10/9, tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật (22 Hàng Buồm, Hà Nội), triển lãm “Lưu trăng” đã chính thức mở cửa, mang đến cho người dân Thủ đô và du khách một không gian nghệ thuật lung linh, rực rỡ sắc màu.

Hồ Gươm và không gian quanh hồ qua lịch sử
Hồ Gươm và không gian quanh hồ qua lịch sử

VOV.VN - Giữa một Hà Nội ngày càng rộng lớn và hiện đại, Hồ Gươm vẫn là nơi người ta tìm về mỗi dịp cuối tuần, ngày lễ. Điều gì khiến một hồ nước nhỏ giữa lòng phố thị có sức níu chân người Hà Nội và du khách qua bao thế hệ?

Hồ Gươm và không gian quanh hồ qua lịch sử

Hồ Gươm và không gian quanh hồ qua lịch sử

VOV.VN - Giữa một Hà Nội ngày càng rộng lớn và hiện đại, Hồ Gươm vẫn là nơi người ta tìm về mỗi dịp cuối tuần, ngày lễ. Điều gì khiến một hồ nước nhỏ giữa lòng phố thị có sức níu chân người Hà Nội và du khách qua bao thế hệ?