Văn hóa không chỉ để trình diễn mà phải trở thành chuẩn mực, hành vi và nếp sống
VOV.VN - Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 được kỳ vọng không chỉ là một ngày nghỉ mới mà trở thành dịp để người dân trực tiếp tham gia, thực hành và thụ hưởng văn hóa. Theo TS Đặng Vũ Cảnh Linh, điều quan trọng là đưa văn hóa vào cách sống, cách ứng xử và tạo ra công chúng bền vững.
Ngày 24/11 năm nay sẽ là lần đầu tiên Ngày Văn hóa Việt Nam được tổ chức chính thức, sau khi chủ trương được xác lập tại Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và được Quốc hội cụ thể hóa bằng Nghị quyết 28/2026/QH16. Theo chính sách mới, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Không chỉ bổ sung một ngày nghỉ, dấu mốc này đặt ra câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để văn hóa thực sự đi vào đời sống, để người dân không chỉ là người xem mà trở thành chủ thể tham gia, thực hành và thụ hưởng văn hóa. Phóng viên VOV.VN đã có cuộc trao đổi với TS Đặng Vũ Cảnh Linh, Phó viện trưởng Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu Khoa học - Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về vấn đề này.
Từ gìn giữ bản sắc đến tạo nguồn lực phát triển
PV: Theo ông, việc chọn 24/11 là Ngày Văn hóa Việt Nam có ý nghĩa như thế nào trong việc khơi dậy niềm tự hào, ý thức gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc?
TS Đặng Vũ Cảnh Linh: Trước hết cần định vị Ngày Văn hóa Việt Nam trong chiều sâu lịch sử của một dân tộc có hàng nghìn năm văn hiến, với kho tàng di sản phong phú được bồi đắp qua nhiều thế hệ bởi cộng đồng 54 dân tộc anh em. Kho tàng văn hóa người Việt vô cùng đa dạng, phong phú, từ tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, nghệ thuật, ẩm thực, nghề thủ công đến những tri thức bản địa và cách ứng xử với con người, cộng đồng, thiên nhiên. Đó không chỉ là di sản để trưng bày hay chiêm ngưỡng, mà là phần căn cốt làm nên bản sắc, sức sống và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam, đồng thời là nguồn lực nội sinh quan trọng để khơi mở những động lực phát triển mới.
Vì vậy, Ngày Văn hóa Việt Nam trước hết là một dịp để chúng ta nhìn lại, để tự hào và tiếp tục phát huy những giá trị tốt đẹp mà cha ông đã gìn giữ, bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Giá trị lớn nhất của ngày 24/11 là kiến tạo điểm hội tụ giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc và sáng tạo, giữa niềm tự hào dân tộc và khát vọng phát triển. Đây không chỉ là ngày nhắc nhớ về những gì cha ông để lại, mà còn là dịp khơi dậy trách nhiệm của mỗi thế hệ trong việc tiếp nối, làm giàu thêm các giá trị văn hóa Việt Nam và đưa những giá trị ấy đi xa hơn trong thế giới đương đại.
PV: Từ ý nghĩa tôn vinh văn hóa, theo ông, ngày 24/11 có thể tạo thêm những giá trị gì cho đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước?
TS Đặng Vũ Cảnh Linh: Trong kỷ nguyên mới, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là sức mạnh mềm, là nguồn lực phát triển và là năng lực cạnh tranh của quốc gia. Một sản phẩm Việt Nam ra thế giới không chỉ mang theo chất lượng hay giá cả, mà còn mang theo câu chuyện, thẩm mỹ, bản sắc và giá trị Việt Nam. Bất kỳ thương hiệu mạnh nào cũng cần có chiều sâu văn hóa.
Điện ảnh, âm nhạc, thời trang, thiết kế, trò chơi điện tử, nghệ thuật biểu diễn, du lịch di sản hay các sản phẩm số hoàn toàn có thể trở thành mũi nhọn trong những ngành công nghiệp văn hóa mới, vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa đưa hình ảnh Việt Nam đến gần hơn với bạn bè thế giới.
Việt Nam không thiếu tài nguyên văn hóa. Điều cần nâng lên là năng lực biến tài nguyên văn hóa thành sản phẩm của thời đại. Truyện dân gian có thể trở thành phim hoạt hình, trò chơi số, làng nghề có thể bước vào thiết kế đương đại, di sản có thể trở thành trải nghiệm du lịch chất lượng cao, mỹ học truyền thống có thể trở thành ngôn ngữ của những thương hiệu mới.
Vì vậy, nguyên tắc quan trọng là để giá trị văn hóa dẫn dắt thị trường, đồng thời dùng thị trường để làm cho giá trị được sáng tạo tiếp, sống lâu hơn và đi xa hơn. Nếu làm được điều đó, Ngày Văn hóa Việt Nam sẽ không chỉ nhìn về quá khứ, mà còn mở ra một không gian phát triển mới cho công nghiệp văn hóa và sức mạnh mềm Việt Nam.
Ngày Văn hóa không thể chỉ sôi động ở quảng trường
PV: Đây là năm đầu tiên Ngày Văn hóa Việt Nam được tổ chức chính thức theo chủ trương mới. Theo ông, cần làm gì để người dân thực sự trở thành chủ thể tham gia, thay vì chỉ đứng ngoài các hoạt động?
TS Đặng Vũ Cảnh Linh: Rút kinh nghiệm từ việc tổ chức nhiều ngày lễ, điều đầu tiên cần thay đổi là từ tư duy “tổ chức sự kiện” sang tư duy “tổ chức sự tham gia”. Văn hóa là tài sản chung của dân tộc, đồng thời cũng là thực hành hằng ngày của toàn dân. Vì vậy, tổ chức các sự kiện trong Ngày Văn hóa chỉ thực sự thành công khi người già, người trẻ, các gia đình, các nhóm xã hội khác nhau đều thấy mình có phần trong đó, đều muốn hưởng ứng và trực tiếp tham gia.
Lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương cần quan tâm trả lời những câu hỏi rất cụ thể: Người dân biết gì, được hưởng gì, được tham gia gì và có thể đóng góp gì cho Ngày Văn hóa Việt Nam? Cần tạo cơ chế để người dân hiến kế, cùng thiết kế hoạt động và chủ động, tự nguyện tham gia; từ đó mới xây dựng được những nội dung phù hợp với từng nhóm công chúng. Ngày Văn hóa không thể chỉ sôi động ở quảng trường hay trung tâm đô thị, mà phải đi vào từng gia đình, từng cộng đồng và từng không gian sống của người dân.
Nhưng muốn văn hóa trở thành sức mạnh mềm, trước hết văn hóa phải hiện diện trong chính cách chúng ta sống. Không thể nói đến một quốc gia văn hóa nếu những biểu hiện lệch chuẩn, ứng xử thiếu kiềm chế, sự vô cảm, thói hư, tật xấu cùng những vấn đề xã hội nảy sinh trong đời sống hằng ngày chưa được điều chỉnh từ chính nền tảng văn hóa và chuẩn mực cộng đồng.
Tôi cũng cho rằng ngày 24/11 cần nhấn mạnh thêm các nội dung thực hành văn hóa. Đó có thể là cùng làm sạch khu phố, ứng xử văn minh nơi công cộng, dành thời gian cho gia đình, tôn trọng người khác khi tranh luận trên mạng, hạn chế lời nói và hành vi bạo lực. Một Ngày Văn hóa mà chương trình nghệ thuật rất nhiều nhưng rác vẫn bị vứt xuống đường, người ta vẫn chen lấn, to tiếng, bạo lực, ứng xử thiếu chuẩn mực ngoài đời và trên không gian mạng thì ý nghĩa của ngày này sẽ bị giảm sút đáng kể.
Văn hóa không chỉ để trình diễn, mà phải trở thành chuẩn mực, giá trị, nhận thức, hành vi và nếp sống. Vì thế, tôi mong 24/11 không phải là một ngày Nhà nước làm văn hóa cho người dân, mà là một ngày Nhà nước tạo điều kiện để toàn dân cùng làm nên văn hóa.
PV: Người lao động được nghỉ và hưởng nguyên lương ngày 24/11. Làm thế nào để quỹ thời gian này thực sự mở rộng cơ hội thụ hưởng văn hóa, thay vì chỉ trở thành một kỳ nghỉ thông thường?
TS Đặng Vũ Cảnh Linh: Ý nghĩa của chính sách này không chỉ nằm ở việc người lao động được nghỉ và hưởng nguyên lương, mà ở chỗ Nhà nước đã dành riêng một ngày, một quỹ thời gian xã hội để khuyến khích người dân thụ hưởng và thực hành văn hóa. Vì vậy, ngày nghỉ ấy cần được sử dụng đúng với tinh thần của nó: để mỗi người có thêm cơ hội đến với sách, nghệ thuật, di sản, gia đình, cộng đồng và những giá trị tốt đẹp trong đời sống. Nếu chỉ biến 24/11 thành một kỳ nghỉ thông thường thì chúng ta mới sử dụng được thời gian, nhưng chưa sử dụng được hết ý nghĩa của chính sách.
Nhưng một ngày nghỉ chỉ tạo ra điều kiện, không tự tạo ra nhu cầu văn hóa. Người dân sẽ lựa chọn nơi nào vui hơn, thuận tiện hơn, hấp dẫn hơn. Vì thế, trách nhiệm của các thiết chế và ngành công nghiệp văn hóa là phải tạo ra những sản phẩm đủ sức cạnh tranh với những hình thức giải trí khác. Nói cách khác, không nên yêu cầu người dân dành ngày nghỉ để “học văn hóa”, phải làm cho văn hóa đủ hấp dẫn để họ tự nguyện lựa chọn những hoạt động tích cực trong ngày lễ ấy.
Tôi cho rằng không nên e ngại khái niệm tiêu dùng văn hóa. Công nghiệp văn hóa chỉ có thể phát triển khi có công chúng và thị trường. Nghệ sĩ phải sống được bằng sáng tạo, nghệ nhân phải sống được bằng nghề, nhà hát phải có khán giả, phim phải có người xem, sách phải có người mua. Không có công chúng thì không thể có một nền công nghiệp văn hóa mạnh.
Thiết chế văn hóa không chỉ mở cửa mà phải tạo trải nghiệm
PV: Chính sách miễn, giảm phí tham quan có thể giúp người dân dễ tiếp cận hơn với các thiết chế văn hóa. Nhưng theo ông, bản thân các thiết chế này cần thay đổi gì để đủ sức giữ chân công chúng?
TS Đặng Vũ Cảnh Linh: Miễn, giảm phí chỉ hạ thấp ngưỡng tiếp cận và không tự tạo ra sức hấp dẫn. Nếu một bảo tàng miễn phí nhưng công chúng vẫn chỉ đi qua những tủ kính và đọc những bảng chữ dài, nếu thư viện chỉ là nơi mượn sách, nhà hát vẫn xa lạ với người trẻ thì miễn phí cũng khó tạo được công chúng bền vững.
Điều các thiết chế văn hóa cần thay đổi trước hết là chuyển từ tư duy quản lý hiện vật, không gian và chương trình sang tư duy quản trị trải nghiệm và thực hành văn hóa của công chúng. Bảo tàng không chỉ trưng bày mà phải biết kể chuyện bằng ngôn ngữ hiện đại, từ số hóa hiện vật, mô hình 3D, thực tế ảo, thực tế tăng cường đến các hình thức tương tác để người xem có cảm giác được bước vào không gian lịch sử và sống cùng câu chuyện. Thư viện không chỉ lưu giữ sách mà phải mở rộng sang thư viện số, cộng đồng đọc số và các nền tảng chia sẻ tri thức. Nhà hát không chỉ bán vé mà phải tạo hệ sinh thái trải nghiệm trước, trong và sau buổi diễn để nuôi dưỡng khán giả. Di tích phải làm cho lịch sử có khả năng đối thoại với đời sống hôm nay bằng công nghệ, nghệ thuật và cách kể mới. Làng nghề cũng phải đưa du khách từ chỗ chỉ xem sản phẩm sang trực tiếp trải nghiệm, học nghề, làm nghề và hiểu câu chuyện văn hóa phía sau mỗi sản phẩm.
Điểm cốt lõi là không để công chúng chỉ đứng ngoài quan sát, mà phải kéo họ bước vào trong chương trình, trở thành người tham gia, người trải nghiệm và ở một mức độ nào đó là người đồng sáng tạo văn hóa.
PV: Theo ông, cần dựa vào những tiêu chí nào để đánh giá Ngày Văn hóa Việt Nam thực sự tạo ra chuyển biến, thay vì chỉ nhìn vào số chương trình hay lượng người tham dự?
TS Đặng Vũ Cảnh Linh: Đây là chỗ rất cần thay đổi cách đánh giá, bởi đo cái gì thì người ta sẽ chạy theo cái đó. Nếu chỉ tiêu chủ yếu là số chương trình và số lượt người tham dự, chúng ta rất dễ có những con số đẹp nhưng chưa chắc có chuyển biến văn hóa thực chất.
Tôi nghĩ cần đánh giá ba phương diện: Độ bao phủ, chất lượng tham gia và khả năng tạo ra hành vi lâu dài. Độ bao phủ cho biết ngày này có đến được với công nhân, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân nông thôn và vùng khó khăn hay không. Chất lượng tham gia cho biết công chúng thực sự trải nghiệm hay chỉ “có mặt”. Còn chỉ số quan trọng nhất là sau ngày 24/11, họ có tiếp tục đọc sách, xem sân khấu, đến bảo tàng, quan tâm di sản, sử dụng sản phẩm văn hóa Việt Nam hay không.
Doanh thu cũng cần được đo, bởi văn hóa muốn phát triển phải có thị trường. Nhưng tôi không muốn chúng ta chỉ có “doanh số của một ngày” mà không tạo được “công chúng của cả năm”.
PV: Xin cảm ơn ông!